Articles by "Câu Chuyện Cuộc Sống"

Vuột mất điều ước
Có một chàng trai trẻ đau đáu trong lòng và thành khẩn cầu xin thần thánh ban cho anh ta ba điều ước: Có được một công việc thu nhập cao, lấy một cô vợ đẹp và trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới.
Vào một mùa đông giá buốt, khi anh ta đang vội vã đến dự cuộc phỏng vấn tại một công ty nổi tiếng, bỗng nhiên, trước mắt ông có một người đàn ông lớn tuổi bị trượt ngã. Anh nhìn sang người vừa ngã, trong đầu lóe lên ý nghĩ rằng người đó chắc hẳn là bị say rượu và đã không đưa tay đỡ ông ta dậy vì điều đó có thể làm anh trễ phỏng vấn. Thế nhưng cuộc phỏng vấn diễn ra không thành công: Anh không được nhận vào công việc mơ ước.
Lần khác, vào một buổi tối mùa hè anh ta đi dạo trong thành phố. Nhận thấy có một đám đông các nghệ sỹ đường phố, anh liền dừng lại để xem họ biểu diễn. Khán giả không đông, nhưng vở kịch thật vui vẻ và cuốn hút. Sau khi kết thúc buổi diễn, những tràng vỗ tay vang lên và mọi người bắt đầu tản đi. Anh ta cũng quay về nhà. Nhưng đúng lúc đó có ai đó đã rụt rè chạm tay vào vai anh. Đó chính là nữ nhân vật chính của vở kịch – một bà cụ diễn vai hề. Bà liền hỏi ông có thích vở kịch đó không, có hài lòng về các nghệ sỹ không. Nhưng anh ta đã không muốn tiếp tục cuộc trò chuyện với bà và khinh khỉnh quay người bước về nhà.
Một lần khác nữa vào một buổi chiều mưa anh ta vội vã trở về nhà sau buổi sinh nhật ở nhà một người bạn. Cảm thấy rất mệt mỏi, trong đầu anh chỉ còn nghĩ đến chiếc bồn tắm và một chiếc giường ấm áp tiện nghi. Bỗng nhiên ông nghe thấy có tiếng nức nở đang cố nén lại của ai đó. Đó là một người phụ nữ đang khóc. Cô ta ngồi trên chiếc ghế dài đằng sau ngôi nhà của anh. Cô ngồi một mình và không có ô che mưa. Nhìn thấy anh, cô gái liền quay sang nhờ giúp đỡ. Cô đang gặp bất hạnh trong gia đình và cô chỉ cần có một người để chia sẻ trò chuyện. Anh ta suy nghĩ một chút, nhưng không cưỡng được sức hút của chiếc bồn tắm và chiếc giường. Thế là anh ta vội vã đi tiếp.
Cuộc sống cứ thế trôi qua trong tẻ nhạt và vội vã. Rồi chàng thanh niên trở nên già và qua đời mà chẳng đạt được điều ước nào! Khi đến cửa cõi âm, người đàn ông gặp lại người bạn của mình là Thần cứu thế, ông than thở:
– Bạn có biết không, tôi đã trải qua một cuộc đời hoàn toàn bất hạnh và vô giá trị. Tôi đã có ba điều ước mơ nhưng chẳng đạt được một điều ước nào cả. Thật đáng tiếc!
– Hừm…. Bạn của tôi ơi, tôi đã làm tất cả để mọi ước mơ của bạn được trở thành hiện thực, nhưng để làm được điều đó, điều mà tôi cần ở bạn chỉ là: đôi tay của bạn, đôi mắt của bạn và trái tim của bạn.
– Nghĩa là sao ?
– Cậu còn nhớ người đàn ông đã bị ngã trên con đường trơn vào một mùa đông chứ? Bây giờ tôi sẽ cho bạn biết điều này….. người bị ngã đó là giám đốc điều hành của công ty mà bạn đang muốn được vào. Một sự nghiệp rạng rỡ đã chờ bạn. Mọi thứ cần ở bạn – là đôi tay của bạn đó.
Bạn còn nhớ về bà cụ diễn vai hề, người sau buổi biểu diễn đường phố đã tiếp cận với cậu bằng những câu hỏi. Đó là một nữ nghệ sỹ trẻ đẹp, người đã yêu cậu từ cái nhìn đầu tiên. Một hạnh phúc tương lai chờ đợi hai người – những đứa con, một tình yêu bất tử. Tất cả những điều cần ở bạn – là đôi mắt của bạn đó.
Cậu có nhớ đến người phụ nữ đã khóc ở gần lối vào nhà cậu không? Khi đó là một buổi chiều mưa và người cô ấy đã bị ướt cùng với nước mắt…..
Đó là một nữ văn sỹ nổi tiếng. Cô ấy đang trải qua cuộc khủng hoảng gia đình và cô ấy đã rất cần có sự nâng đỡ về tinh thần. Giá như cậu có thể giúp cô ấy được sưởi ấm trong căn phòng của mình, được sưởi ấm tâm hồn nhờ vào những lời động viên an ủi thông minh của cậu thì cô ấy sẽ viết nên một cuốn sách kể về chuyện đó. Cuốn sách sẽ trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới và cậu sẽ được vinh danh bởi trên trang đầu cuốn sách tác giả sẽ đề tên người đã trở thành nguyên mẫu tác phẩm đó. Và tất cả những điều cần ở cậu khi đó – là trái tim của cậu đó. Cậu đã không quan tâm đến điều đó, bạn của tôi ạ.
Người đàn ông thở dài hối tiếc. Mọi sự đã quá trễ. Ông chỉ sống có một lần và bây giờ đã không còn cơ hội để thêm một lần ước mơ.
Tiểu An sưu tầm

Những lời đơn sơ nhỏ bé
Một ngày kia, trái tim, bộ óc và cái lưỡi đồng ý với nhau là sẽ không bao giờ nói những lời đơn sơ nhỏ bé nữa.
Trái tim phát biểu: “Những lời đơn sơ nhỏ bé chỉ làm bận rộn ta thôi. Chúng làm cho ta trở nên yếu đuối. Sống trong thời buổi này trái tim phải trở nên cứng rắn, cương quyết, chứ không thể mềm nhũn dễ bị xúc động được”.
Bộ óc biểu đồng tình: “Vâng, đúng thế, thời buổi này chỉ có những tư tưởng cao siêu, những công thức tuyệt diệu, những chương trình vĩ đại mới đáng cho bộ óc suy nghĩ tới. Những lời đơn sơ nhỏ bé chỉ làm mất thời giờ, mà thời giờ là vàng bạc”.
Cái lưỡi nghe trái tim và bộ óc nói thế không khỏi hãnh diện và tự cảm thấy mình trở nên rất quan trọng, mặc dù lưỡi chỉ là bộ phận bé nhỏ của thân thể, vì thế lưỡi cũng hội ý: “Hai anh quả thật đã đạt được tột đỉnh của sự khôn ngoan. Nếu hai anh nghĩ thế thì, tôi sẽ chỉ nói những danh từ chuyên môn, những câu nói văn hoa bóng bẩy, những bài diễn văn sâu sắc, hùng hồn”.
Như đã đồng ý, kể từ dạo ấy, trái tim chỉ gửi lên lưỡi những lời nói cứng cỏi, bộ óc chỉ sản xuất và gửi xuống lưỡi những tư tưởng cao siêu và lưỡi sẽ không còn nói những lời đơn sơ nhỏ bé nữa.
Với thời gian, mặt đất trở nên tẻ lạnh như cảnh vật vào mùa đông: Không có lấy một chiếc lá xanh, không còn một cánh hoa đồng nội và lòng người cũng trở nên chai đá như những thửa ruộng khô cằn, nứt nẻ trong những tháng hè nóng bức.
Nhưng những ông già, bà cả vẫn còn nhớ những lời đơn sơ nhỏ bé. Ðôi lúc miệng họ vô tình bật phát nói ra chúng. Lúc đầu họ sợ bị bọn trẻ chê cười. Nhưng kìa, thay vì cười chê, những lời nói đơn sơ nhỏ bé lại được truyền từ miệng này sang miệng khác, từ bộ óc này đến bộ óc khác, từ trái tim này qua trái tim nọ. Cuối cùng, chúng xuất phát như những chiếc hoa phá tan lớp tuyết giá lạnh để ngoi lên làm đẹp cuộc đời.
*****
Câu chuyện trên không tiết lộ những lời đơn sơ nhỏ bé là gì, nhưng chúng ta có thể đoán: đó có thể là hai chữ: “Xin lỗi!”, thốt lên để xin nhau sự tha thứ.
Hay đó là lời chào vắn gọn: “Mạnh giỏi không?” đồng nghĩa với câu hỏi: “Tôi có thể làm gì được cho anh cho chị không?”.
Nhất là hai tiếng : “Cám ơn!” thốt lên chân thành từ cửa miệng của những kẻ được giúp đỡ, của những con người mang công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ, hay của những vợ chồng trung tín chia sẻ với nhau những ngọt bùi, đắng cay của cuộc sống hoặc của những người được bạn bè đỡ nâng sau những thất bại ê chề hay sau những lần vấp ngã.
Tiểu An sưu tầm

Lạy Chúa, tại sao ?
Tôi luôn luôn duyệt xét chính mình để có thể trở thành một Kitô hữu tốt. Tôi sinh ra ở Boston trong một gia đình Công giáo gốc Bồ Đào Nha. Tôi học trường Công giáo và tham dự Thánh lễ đều đặn dưới sự giám sát của cha mẹ tôi. Khi tôi 6 tuổi, cha tôi đã ra nước ngoài, ở đó bao quanh chúng tôi là các truyền thống của niềm tin Công giáo. Tôi siêng năng lần hạt. Tuy nhiên, khi tôi lớn lên, mọi sinh hoạt đạo đức của tôi trong nhà thờ trở nên máy móc. Nhiều năm trôi qua, thỉnh thoảng tôi mới đến nhà thờ.
Tôi gia nhập hải quân Mỹ và đã gặp một phụ nữ trẻ, mà sau này là vợ tôi. Chúng tôi đã có 2 người con trai tuyệt vời: Reme và Jason. Chúng là niềm tự hào và niềm vui của tôi, tôi cảm thấy mình là người sung sướng nhất, và luôn muốn những điều tốt nhất cho chúng, vì thế tôi đã làm tất cả vì chúng nhờ vào tài năng của mình, tôi đã thành công trong việc kinh doanh. Tôi đã có địa vị, nghề nghiệp và gia đình. Tôn giáo mà tôi đã gia nhập chỉ là bên ngoài. “Thiên Chúa” chỉ là một từ ngữ.
BỊ BẮT VÀ BỊ TÙ
Vào một ngày, khi tôi đưa một người trong gia đình tới bệnh viện, tôi đã bị cảnh sát bao vây. Tôi không biết điều gì đang xảy ra. Tôi đã ở đây, một quân nhân Mỹ, một người yêu nước và tôi đã bị bắt. Lạy Thiên Chúa, tại sao lại như vậy? Tôi chưa bao giờ gặp sự khó khăn nào và hồ sơ của tôi thì trong trắng như bộ quân phục của tôi.
Tôi đã khám phá ra rằng tôi đã bị những người cùng làm ăn với tôi trước đây vu cáo. Họ muốn hại tôi để những kế hoạch mờ ám của họ không bị phát hiện. Luật sư của tôi đã cố gắng làm cho tôi tin rằng mọi sự đều tốt. Anh ta nói: “Anh vô tội, đừng lo lắng. Sẽ không bao giờ có chứng cớ.”
Và thử thách đã đến. Không có bằng chứng, nhưng vì một lý do nào đó, ban hội thẩm khám phá ra tôi có tội và tôi đã bị kết án tù. Lạy Thiên Chúa, tại sao? Con đã làm gì để xứng đáng nhận điều này? Tại sao Ngài lại để điều này xảy ra?
Tôi giận dữ và gay gắt. Tôi đã thay bộ đồng phục trắng của hải quân Mỹ bằng bộ đồ tù nhân. Niềm tin của tôi đã bị tiêu tan. Tôi không thể tin rằng Thiên Chúa tồn tại. Nếu Ngài hiện hữu, tại sao Ngài lại để những điều này xảy đến với tôi?
Thời gian qua đi, tôi trở nên lạnh lùng và hung dữ hơn. Vì địa vị của tôi trước đây nên tôi được mọi người trong tù kính trọng. Nhưng rồi điều cuối cùng đã xảy ra, con trai lớn của tôi là Rem bị chết trong một tai nạn xe hơi. Tôi đã bị mất con, tôi căm ghét mọi người và mọi thứ. Thậm chí cả Thiên Chúa cũng là kẻ thù của tôi.
SỰ BÌNH AN VÀ KHỦNG HOẢNG
Vào thời gian này, tôi đã gặp một người sống chung trong tù tên là Todd. Tôi không hiểu tại sao anh ta có một tâm hồn rất bình an, và chúng tôi đã trở thành bạn thân. Tôi tin tưởng anh nên đã chia sẻ nỗi lòng của tôi cho anh biết. Tôi đã khám phá ra rằng anh là một người Công giáo. Anh nói với tôi rằng anh rất bình an, thanh thản bởi vì anh biết Thiên Chúa. Nhưng tôi thì không thể tin khi chưa nhìn thấy.
Một ngày kia, Todd đã thuyết phục tôi đi với anh tới một nhà nguyện. Tôi ngồi ở ghế dài đằng sau và không muốn ai thấy tôi. Tôi đã không chấp nhận Thiên Chúa, nhưng tôi tìm thấy ở đây sự tĩnh lặng, không khí an bình. Tôi đã bắt đầu tới nhà nguyện thường xuyên hơn và đi theo Todd như một chó con, vì tôi muốn có được sự bình an mà anh ấy đang có, nhưng tôi đã không thể tìm ra vị trí chính xác nó đã đang đến từ đâu.
Một lần nữa, thảm kịch lại đến. Con trai út của tôi – Jason đã bị một người lái xe say rượu đâm vào nó khi nó đang đi với một người bạn, và nó đang trong tình trạng mê man. Khoảng một tháng, mỗi ngày tôi được phép gọi tới bệnh viện và nói chuyện với nó mặc dù nó không thể nói chuyện được. Sau đó họ yêu cầu tôi thực hiện một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời tôi đó là các bác sĩ muốn tôi dứt bỏ sự sống của Jason. Tôi đã phải chiến đấu với đề nghị này, nhưng Todd đã ở đó để hỗ trợ tôi. Cuối cùng, tôi đồng ý và vào lúc 10g00 sáng, chỉ hai ngày sau sinh nhật của tôi, sự sống của Jason đã chấm dứt. Vào lúc trưa, nó đã ra đi vĩnh viễn. Tôi cảm thấy hoàn toàn trống rỗng.
GẶP GỠ ĐỨC GIÊSU TRONG TÙ
Thời gian qua đi, Todd đã mời tôi đi tĩnh tâm, ngay lập tức tôi từ chối vì tôi không muốn có sự liên hệ nào với Thiên Chúa, tôi không có gì để làm với Thiên Chúa, tôi không tin vì tôi không thấy được điều gì tốt mà Thiên Chúa đã thực hiện cho tôi. Nhưng Todd vẫn giữ lời gợi ý của anh. Tôi đã suy nghĩ bởi vì anh đã làm cho tôi quá nhiều, nên cuối cùng tôi đã đồng ý đi tĩnh tâm. Tôi đã không mong chờ bất cứ điều gì vì tôi nghĩ tôi chỉ đi và lắng nghe.
Nhưng thật bất ngờ, tôi đã bị họ đo ván. Tôi đã gặp được Đức Giêsu trong cuộc tĩnh tâm này. Tôi đã gặp được tình yêu Giêsu. Tôi giống như đứa con hoang đàng trở về. Tôi đã tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi của tôi. Tôi đã tha thứ cho những người tố cáo tôi. Tôi đã tha thứ cho những người đã gây ra cái chết cho các con trai tôi. Tôi đã tha thứ cho mọi người đã làm hại tôi hay gia đình tôi.
Tôi đã tìm thấy sự bình an khi được biết Đức Giêsu và tôi còn muốn hơn nữa. Tôi đã trở nên người chỉ huy dàn hợp xướng của cha tuyên úy các tù nhân và là thư ký của ngài. Tôi đã bắt đầu học hỏi Lời Thiên Chúa.
Nhưng rồi điều không mong đợi lại đến với cuộc đời tôi. Khoảng một năm sau sự hoán cải của tôi. Tôi đã được chẩn đoán mắc một chứng bệnh nan y là bệnh đa xơ cứng và chức năng làm việc của bàng quang và ruột bị mất dần đi. Nỗi đau ngày càng nhiều hơn và cuối cùng tôi đã phải chịu giam mình trong một chiếc xe lăn.
Một ngày, khi tôi ở trong nhà nguyện bằng chiếc xe lăn của mình, một thanh niên trẻ tên là Eric đã đến gần và xin được giúp đỡ. Tôi tin tưởng rằng Chúa Thánh Thần đã làm việc. Và Thiên Chúa tốt lành đã sai một thiên thần đến với tôi. Eric đã làm cho tôi tất cả những gì tôi cần. Anh rửa sạch tôi khi tôi tự làm bẩn. Anh nấu cho tôi những bưã ăn ngon, anh dành thời gian để chơi trò chơi và học Kinh Thánh với tôi. Anh là một phải ánh của Đức Kitô cho tôi.
Căn bệnh đã làm tôi phải vào trạm xá của nhà tù, ở đó tôi đã có nhiều thời gian và sự thinh lặng. Tôi muốn học Kinh Thánh và có nhiều cơ hội để giúp đỡ những người đau yếu khác.
Tôi vừa mới nhận được một học bổng của trường đại học Công giáo ở rất xa và niềm khao khát học tập của tôi đã trở nên mãnh liệt hơn. Cơ hội này đã cho phép tôi mang theo cả trái tim cùng với suy nghĩ của tôi. Tôi đang biết Đức Giêsu cũng như đang cảm nghiệm về Ngài.
Nếu đó là ý định của Thiên Chúa muốn minh chứng cho sự vô tội của tôi, tôi sẽ tạ ơn Ngài. Nhưng trong lúc đó, tôi biết rằng Ngài có những dự định cho tôi ở đây. Tôi không còn giận dữ và gay gắt nữa. Điều đó đã đưa tôi đến nhà tù để gặp gỡ Đức Giêsu trong mắt của những người tin tưởng vào Ngài và cảm nghiệm được tình yêu của Ngài.
Tôi biết cuộc sống của tôi đã thay đổi tốt hơn và giờ đây tôi đã cảm nghiệm được rằng Thiên Chúa muốn tôi có một niềm tin tưởng vững chắc vào Ngài trước mọi biến cố xảy đến, mặc dù tôi không biết làm gì hơn là cố gắng dùng hết khả năng của mình để chiến đấu. Ở đây, tôi có cơ hội để học biết về Đức Giêsu. Tôi hy vọng rằng Chúa Thánh Thần sẽ làm cho tôi trở thành dụng cụ của niềm tin và sự bình an mà tôi đã tìm kiếm và đã thấy.
Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Ngài!
Sr. Ngô Liên chuyển ngữ
(Humberto Fejoo, The Word among us)

Bài học đáng giá nghìn vàng
Ngày xửa ngày xưa ở vương quốc nọ, có một đức vua trên đường vi hành tình cờ đã nghe được từ một ông lão rao bán rằng: “Có một bài học đáng giá nghìn vàng”, ai bỏ ra một ngàn lượng vàng thì ông ta sẽ bán cho cái đạo lý đó… Nhiều người nghe thấy lạ thì tò mò đi theo dò hỏi, tuy nhiên gạn hỏi thế nào ông lão cũng chỉ nói: Ai trả đủ một ngàn lượng vàng thì kẻ đó mới được biết bí mật của “bài học”. Bởi vậy nhiều người cho là lão bị điên vì họ nghĩ chẳng có bài học nào đắt đến thế.
Ngày ngày ông lão cần mẫn đi như một người bán rong và rồi tiếng rao của lão cũng đến tai nhà vua. Vua ngạc nhiên vội cho cận thần theo dõi và được mật báo rằng ông lão có hành tung như một vị hiền triết – cốt cách khoan thai, đời sống chuẩn mực, đàng hoàng, lời ăn tiếng nói không thừa một chữ, biểu hiện của người siêu phàm, thoát tục…
Nhà vua cả mừng bèn giả dạng thường dân đến gặp và hỏi ông lão rằng bài học gì mà lão rao bán đến một nghìn lượng vàng? Ông lão nói: Đây là bài học mà có thể làm cho người ta thoát khỏi những đau khổ của cuộc đời, vượt qua khỏi những lầm lỗi và có thể đạt tới tột đỉnh vinh quang…
Nghe xong, nhà vua vẫn còn bán tín bán nghi nên bỏ về, nhưng lòng cứ ray rứt bởi sức hấp dẫn của ý nghĩa bí ẩn của bài học đáng giá ngàn vàng ấy. Rồi nhà vua quyết định mở ngân khố lấy ra một nghìn lượng vàng rồi hạ chỉ mời ông lão vào hoàng cung. Ông lão cả mừng vì nhận ra đức vua chính là người hôm trước đã gặp và hỏi lão về bí mật của bài học đáng giá ngàn vàng. Vua nói: Ta chấp nhận hoặc bị lừa mất một nghìn lượng vàng hoặc thật sự sẽ được một bài học vô giá.
Nói đoạn, nhà vua truyền cho quan thủ ngân chất đủ một ngàn lượng vàng trước mặt ông lão. Nhận đủ số vàng, ông lão cung kính dâng lên đức vua một vuông lụa viết vỏn vẹn 12 chữ:“Phàm làm việc gì phải suy nghĩ đến hậu quả của nó”.
Đọc xong 12 chữ ấy, đức vua có cảm giác như mình đã bị lừa, nhưng lời vua nặng tựa thái sơn, nên không kịp rút lại, đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Còn ông lão thì lặng lẽ chất vàng vào túi vải, cung kính vái tạ vua rồi rời khỏi kinh thành.
Từ đó nhà vua cứ bị ám ảnh bởi 12 chữ: “Phàm làm việc gì phải suy nghĩ đến hậu quả của nó” và nếu nhà vua chỉ mua câu nói này với một lượng vàng thì chắc hẳn người đã quên bài học này từ lâu. Nhưng đằng này, mỗi chữ trị giá tới gần cả 100 lượng vàng. Nghĩ vậy, đức vua vừa tức giận, vừa tiếc công quỹ và câu nói nặng ngàn vàng đó đã nhập vào tâm nhà vua tự bao giờ để rồi mỗi khi nhà vua làm việc gì đều suy nghĩ đến hậu quả của nó.
Sau khi đức vua mua “bài học ngàn vàng” thì cả triều đình nhận ra nhà vua thay đổi từng ngày. Đức vua trầm tĩnh hơn, khôn ngoan hơn, công tư phân minh, phân định mọi việc sáng suốt, ngồi trên ngai vàng trong hoàng cung mà đoán định tình hình ở biên cương như thần… Đất nước từ đó bắt đầu cường thịnh.
Thần dân thì mừng vui vì đời sống được an lành, thịnh vượng. Nhưng chính nhà vua lại không nhận ra điều đó, ông chỉ bị ám ảnh bởi bài học ngàn vàng và người luôn tự nhủ: Phàm làm việc gì cũng phải suy nghĩ đến hậu quả của nó! Nhờ vậy mà nhân cách nhà vua được tu chỉnh, đức vua không còn là một vị vua tầm thường kế vị ngai vàng, thích hưởng thụ như ngày xưa mà giờ đây làm việc gì người cũng suy nghĩ cho dân, cho nước.
St

Điều được nói
Một con tàu du lịch gặp nạn trên biển, trên thuyền có một đôi vợ chồng rất khó khăn mới lên đến trước mũi thuyền cứu hộ, trên thuyền cứu hộ chỉ còn thừa duy nhất 1 chỗ ngồi. Lúc này, người đàn ông để vợ mình ở lại, còn bản thân nhảy lên thuyền cứu hộ.
Người phụ nữ đứng trên con thuyền sắp chìm, hét lên với người đàn ông một câu…
Kể đến đây, thầy giáo hỏi học sinh: “Các em đoán xem, người phụ nữ sẽ hét lên câu gì?”
Tất cả học sinh phẫn nộ, nói rằng: “Em hận anh, em đã nhìn nhầm người rồi.”
Lúc này thầy giáo chú ý đến một cậu học sinh mãi vẫn không trả lời, liền hỏi cậu bé. Cậu học sinh nói: “Thầy ơi, em nghĩ người phụ nữ sẽ nói: Chăm sóc tốt con của chúng ta anh nhé”
Thầy giáo ngạc nhiên hỏi: “Em nghe qua câu chuyện này rồi ư?”
Học sinh lắc đầu: “Chưa ạ, nhưng mà mẹ em trước khi mất cũng nói với bố em như vậy”
Thầy giáo xúc động : “Trả lời rất đúng”
Người đàn ông được cứu sống trở về quê hương, một mình nuôi con gái trưởng thành. Nhiều năm sau, anh ta mắc bệnh qua đời, người con gái lúc sắp xếp kỷ vật, phát hiện quyển nhật ký của bố. Hóa ra, lúc mẹ và bố ngồi trên chiếc tàu ấy, người mẹ đã mắc bệnh nan y, trong giây phút quyết định, người chồng đã dành lấy cơ hội sống duy nhất về phần mình. Trong nhật ký viết rằng : “Anh ước gì anh và em có thể cùng nhau chìm xuống đáy biển, nhưng anh không thể. Vì con gái chúng ta, anh chỉ có thể để em một mình ngủ giấc ngủ dài dưới đáy đại dương sâu thẳm. Anh xin lỗi.”
Kể xong câu chuyện, phòng học trở nên im ắng, các em học sinh đã hiểu được ý nghĩa câu chuyện này: Thiện và ác trên thế gian, có lúc lắm mối rối bời, khó lòng phân biệt, bởi vậy đừng nên dễ dàng nhận định người khác.
Sưu tầm

Nếu ước mơ đủ lớn
Tôi vẫn thường nhìn cô bé đó từ cửa sổ nhà bếp và bật cười. Cô bé trông thật bé nhỏ khi chen chúc giữa một đám con trai trên sân chơi. Trường học nằm đối diện với nhà chúng tôi và tôi thường đứng ở bên cửa sổ, tay bận làm việc nhưng mắt vẫn nhìn đám trẻ đang vui chơi trong giờ giải lao. Một biển học trò, nhưng đối với tôi, cô bé vẫn có thể nhận ra được trong đám trẻ đó.
Tôi vẫn nhớ bữa đầu tiên tôi thấy cô bé chơi bóng rổ. Thật tuyệt vời khi cô bé chạy vòng quanh các đứa trẻ khác, nhảy lên ném bóng vào trong rổ ngay trên đầu của chúng. Những đứa con trai luôn cố cản cô bé nhưng không đứa nào làm được cả.
Tôi cũng chú ý đến cô bé vào những lần khác, cũng tại chỗ đó, với banh trong tay đang chơi một mình. Cô có thể tập đi tập lại dắt bóng và ném bóng cho đến khi trời tối mịt. Một ngày kia, tôi hỏi cô bé tại sao cô tập luyện nhiều như vậy. Xoay nhanh người, mái tóc đuôi gà nhún nhảy, cô bé nhìn thẳng vào mắt tôi. Không một chút do dự, cô bé nói, “Cháu muốn vào học Đại học. Cha cháu đã không thể vào Đại học được nên ngay từ khi cháu còn bé, cha đã thường nói là muốn sau này cháu phải học đại học… Cách duy nhất cháu có thể vào học được là phải có một học bổng. Cháu thích bóng rổ. Cháu nghĩ rằng nếu cháu chơi bóng giỏi thì cháu sẽ nhận được học bổng vào Đại học. Cháu sẽ chơi bóng rổ cho trường Đại học. Cháu muốn thành xịn nhất. Cha cháu nói với cháu rằng nếu ước mơ thật sự lớn, những chuyện khác chỉ là chuyện nhỏ.” Sau đó cô bé cười và chạy đi tập tiếp.
Vậy đó, tôi cũng chào thua cô bé – cô bé đã tự định đoạt số mệnh của mình. Tôi đã theo dõi cô bé suốt những năm đầu của Trung học. Mỗi tuần, cô bé dẫn dắt đội bóng của mình chiến thắng. Thật là thích thú khi xem cô bé chơi.
Vào một ngày trong năm cuối cùng bậc Trung học, tôi thấy cô bé ngồi trên bãi cỏ, đầu giấu vào trong cánh tay. Tôi bước qua đường và ngồi xuống bãi cỏ cạnh cô bé. Tôi hỏi nhỏ chuyện gì đã xảy ra với cô vậy. “O,À không có gì,” câu trả lời thật khẽ. “Cháu quá thấp.” Huấn luyện viên nói với cô bé là với chiều cao thấp như vậy cô sẽ chẳng bao giờ chơi cho một đội hạng nhất được – chưa nói đến học bổng – bởi vậy cô nên bỏ ước mơ vào đại học đi.
Cô bé thật đau khổ. Tôi cảm thấy lòng mình thắt lại khi nhận thấy sự thất vọng của cô bé. Tôi hỏi xem cô đã nói cho cha cô biết chưa. Cô bé nhấc đầu lên khỏi cánh tay và kể rằng cha cô nói tất cả các huấn luyện viên đều sai bét cả. Họ không hiểu được sức mạnh của ước mơ. Ông nói với cô bé rằng nếu cô muốn chơi cho một trường Đại học tốt, nếu cô thật sự muốn có học bổng, thì không có gì có thể ngăn cản cô được ngoại trừ một điều – thái độ của chính mình. Ông nói với cô một lần nữa, “Nếu ước mơ đủ lớn thì tất cả những điều khác chỉ là chuyện nhỏ.”
Năm kế tiếp, khi cô và đội của cô chơi cho giải vô địch Bắc California, cô đã được một huấn luyện viên chú ý đến. Cô được mời vào trường, với học bổng, để đến với một đội bóng rổ nữ trong giải hạng nhất của NCAA. Cô bé ấy được nhận vào học. Cô đạt được việc học đại học mà cô hằng mơ ước và cố gắng phấn đấu từ nhiều năm qua. Và cô bé đã được tham gia thi đấu nhiều nhất trong lịch sử nhà trường.
Vào một đêm nọ, cha cô gọi cô. “Cha đang bị bệnh, cưng ạ. Cha bị ung thư. Không, con đừng nghỉ học và cũng không cần trở về nhà. Mọi việc sẽ tốt thôi con. Cha yêu con lắm.”
Sáu tuần sau người cha – thần tượng của cô bé – đã qua đời. Trước đó, cô bé nghỉ học vài ngày để về an ủi mẹ và chăm sóc cha. Một đêm kia, trước khi qua đời, cha cô gọi cô đến bên giường. Khi cô đến gần, người cha nắm lấy tay cô và gắng sức nói “Rachel, con cứ tiếp tục ước mơ đi. Đừng để ước mơ của con chết theo cha. Hứa với cha đi.” ông nài nỉ. “Hứa đi con.” Trong những giây phút hiếm hoi còn được ở bên cạnh nhau đó cô bé trả lời “Dạ con xin hứa với cha.”
Những năm sau đó thật là nặng nề với cô bé. Cô phải luân phiên giữa trường và ở nhà, nơi mẹ cô ở một mình với đứa trẻ mới sinh ra và ba đứa con khác. Sự đau đớn mất cha mà cô cảm nhận được vẫn còn đó, giấu kín trong lòng cô, vẫn chờ đến một lúc nào không ngờ tới được bùng nổ lên để đánh quỵ cô.
Mọi thứ dường như càng ngày càng khó khăn hơn. Cô phải chống chọi với sợ hãi, nghi ngờ và vỡ mộng. Khó khăn đã làm cho cô phải học mất 3 năm mới đủ chứng chỉ cho một năm. Những giáo viên trong trường không tin nổi rằng cô vượt qua được dù chỉ một học kỳ. Mỗi khi muốn bỏ cuộc, cô lại nhớ những lời cha cô “Rachel, hãy tiếp tục ước mơ. Đừng để ước mơ của con chết theo cha. Nếu ước mơ của con đủ lớn, con có thể làm mọi việc. Cha tin ở con.” Và dĩ nhiên, cô luôn nhớ đến lời hứa của mình với cha.Cô bé đã thực hiện được lời hứa và hoàn tất chương trình đại học. Cô phải mất đến 6 năm, nhưng cô không bỏ cuộc. Cô vẫn tiếp tục chơi bóng rổ vào những lúc chiều xuống. Và nhiều lần tôi nghe cô nói với bạn bè “Nếu ước mơ đủ lớn, những điều còn lại là chuyện nhỏ.” 
Sưu tầm

Anh có giúp tôi?
Vào năm 1989 tại Armenia có một trận động đất lớn 8,2 độ Richter đã san bằng toàn bộ đất nước và giết hại hơn ba mươi ngàn người trong vòng chưa đầy bốn phút.
Giữa khung cảnh hỗn loạn đó, một người cha chạy vội đến trường học mà con ông đang theo học. Tòa nhà trước kia là trường học nay chỉ còn là đống gạch vụn đổ nát.
Sau cơn sốc, ông nhớ lại lời hứa với con mình rằng “Cho dù chuyện gì xảy ra đi nữa, cha sẽ luôn ở bên con!” Và nước mắt ông lại trào ra. Bây giờ mà nhìn vào đống đổ nát mà trước kia là trường học thì không còn hy vọng. Nhưng trong đầu ông luôn nhớ lại lời hứa của mình với cậu con trai.
Sau đó ông cố nhớ lại cửa hành lang mà ông vẫn đưa đứa con đi học qua mỗi ngày. Ông nhớ lại rằng phòng học của con trai mình ở phía đằng sau bên tay phải của trường. Ông vội chạy đến đó và bắt đầu đào bới giữa đống gạch vỡ.
Những người cha, người mẹ khác cũng chạy đến đó và từ khắp nơi vang lên những tiếng kêu than “Ôi, con trai tôi!”, “Ôi, con gái tôi!”. Một số người khác với lòng tốt cố kéo ông ra khỏi đống đổ nát và nói đi nói lại:
“Đã muộn quá rồi!”
“Bọn nhỏ đã chết rồi!”
“Ông không còn giúp được gì cho chúng nữa đâu!”
“Ông hãy về đi!”
“Ông đi đi, không còn làm được gì nữa đâu!”
“Ông chỉ làm cho mọi việc khó khăn thêm thôi!”
Với mỗi người, ông chỉ đặt một câu hỏi “Anh có giúp tôi không?” Và sau đó với từng miếng gạch, ông lại tiếp tục đào bới tìm đứa con mình. Đến đó có cả chỉ huy cứu hỏa và ông này cũng cố sức khuyên ông ra khỏi đống đổ nát “Xung quanh đây đều đang cháy và các toà nhà đang sụp đổ. Ông đang ở trong vòng nguy hiểm. Chúng tôi sẽ lo cho mọi việc. Ông hãy về nhà!” Người đàn ông chỉ hỏi lại “Ông có giúp tôi không?”
Sau đó là những người cảnh sát và họ cũng cố thuyết phục ông ta “Ông đang xúc động. Đã xong hết rồi. Ông đang gây nguy hiểm cho cả những người còn lại. Ông về đi. Chúng tôi sẽ lo cho mọi việc!” Và với cả họ ông cũng chỉ hỏi “Các anh có giúp tôi không?” Nhưng không ai giúp ông cả. Ông tiếp tục chịu đựng một mình, vì ông phải tự mình tìm ra câu trả lời cho điều day dứt ông: Con trai tôi còn sống hay đã chết?
Ông đào tiếp… 12 giờ… 24 giờ… ,sau đó ông lật ngửa một mảng tường lớn và chợt nghe tiếng con trai ông. Ông kêu lớn tên con “Armand!” Ông nghe “Cha ơi?! Con đây, cha! Con nói với các bạn đừng sợ vì nếu cha còn sống cha sẽ cứu con và khi cha cứu con thì các bạn cũng sẽ được cứu. Cha đã hứa với con là dù trường hợp nào cha cũng ở bên con, cha còn nhớ không? Và cha đã làm được, cha ơi!!”
“Có chuyện gì xảy ra vậy? Ở đó ra sao rồi?” Người cha hỏi.
“Tụi con còn lại 14 trên tổng số 33, cha ạ. Tụi con sợ lắm. Đói, khát… Nhưng bây giờ tụi con đã có cha ở đây. Khi tòa nhà đổ, ở đây tạo ra một khoảng không nhỏ và thế là tụi con còn sống.”
“Ra đây đi con!”
“Khoan đã cha! Để các bạn ra trước, con biết rằng cha không bỏ con. Có chuyện gì xảy ra con biết là cha chắc chắn sẽ không bỏ rơi con!”
Sưu tầm

Món quà nhỏ
Giữa lòng thành phố tấp nập, người người qua lại với  biết bao trang phục sặc sỡ, sang trọng. Từ phía con hẻm nhỏ bên trái tôi xuất hiện một bà lão đang tiến đến với một thân hình gầy gò, đen đủi. Khoác trên mình bà là một bộ quần áo đã sờn màu, cũ kĩ, tuy vậy nhưng đôi chân thoăn thoắt của bà vẫn rảo bước trên con đường dài để cố đẩy chiếc xe chất toàn là đồ phế liệu cho qua kịp đèn xanh ở ngã tư đường.
  • Nhìn bà lão tội nghiệp chưa kìa chị! Chị T nói với tôi.
  • Hay mình cho bà lão phần bánh và hộp sữa này nhé!
  • Ừm vậy chị mang đến cho bà đi.
Thế là chị T vội gói bịch bánh và hộp sữa vào một túi nilon rồi mang đến biếu bà. Bà mừng lắm và cám ơn chị ấy rất nhiều.
  • Rồi bây giờ chị sẽ ăn sáng bằng gì đây?_ Tôi hỏi chị.
Không sao đâu chị ơi, em nhịn một bữa sáng thôi mà miễn sao giúp một người khó khăn có niềm vui là được mà chị. “Hãy cho đi khi mình còn có thể chị ạ”. Cho đi mọi lúc mọi nơi nhé chị, có ít thì cho ít có nhiếu thì cho nhiều thì cho nhiều, cho đi không chỉ là vật chất mà cả về tinh thần nữa, có như thế cuộc sống mói trở nên ý nghĩa chị ạ.
Chúng tôi lại tiếp tục lên xe buýt đến trường.
Bạn thân mến!
“ HÃY CHO ĐI KHI MÌNH CÒN CÓ THỂ”
Thi Ân (Thỉnh Sinh)

Mùi lạ
Cậu lễ sinh tròn mắt nhìn linh mục xứ:
– Ôi, cha có mùi gì lạ thế?
– Mùi gì?
– Con không xác định được, nhưng hình như là mùi… heo!
Linh mục cười và xoa đầu cậu bé:
– À, tưởng gì. Cha mới tắm cho mấy con heo bên nhà hàng xóm, mùi heo là tất nhiên rồi!
– Sao cha lại làm việc ấy?
– Không có việc xấu, chỉ có người xấu. Ông ấy đã già, không thân nhân, nuôi heo để sinh sống. Mấy hôm nay ông ấy bị mệt, cha phải giúp ông ấy thôi.
– Dạ, con hiểu rồi.
Hôm sau, cậu lễ sinh cười:
– Ôi, hôm nay cha lại có mùi gì kỳ lắm. Mùi này tanh lắm!
– À, hồi nãy cha đi thăm mấy bệnh nhân nằm liệt, không ai giúp đỡ, cha phải giúp họ vệ sinh cá nhân.
– Dạ, con hiểu rồi.
Tuần sau, cậu lễ sinh ngạc nhiên nói:
– Mùi lúc này khác lạ lắm, cha ơi!
– Thế con thấy mùi gì?
– Mùi này không hôi, không tanh, không khó chịu, mà thơm tho lắm, dễ chịu lắm.
– Cái thằng này, mũi thính thế!
Cậu bé gãi đầu, ngập ngừng:
– Nhưng…
– Nhưng gì nào?
– Nhưng… con thích… ngửi mùi hôi… hơn mùi… thơm.
Linh mục tròn mắt:
– Sao vậy? Thơm không thích mà thích hôi à?
– Mùi hôi tanh là mùi thật. Mùi thơm là mùi giả. Cha hôi thì con còn muốn đến gần, cha thơm thì con không dám đến gần, vì cha sang trọng quá! Chúa Giêsu cần chiên đen hơn chiên trắng, luôn gần gũi người nghèo khổ chứ đâu có thân thích với người giàu có.
– Cha xin lỗi và cảm ơn con. Từ nay cha sẽ cố gắng giống Ngài hơn!
TRẦM THIÊN THU

Từ nghiện ngập tiến lên bàn thánh
hành trình của một người vô gia cư tới thiên chức linh mục
Từ nghiện ngập tiến lên bàn thánh: hành trình của một người vô gia cư tới thiên chức linh mục
Montreal, Canada, 25 tháng Tám, 2017 / 03:25 sáng (CNA/EWTN News).- Claude Paradis sống cùng khổ và vô gia cư trên các con đường ở Montreal, Canada. Anh phải chiến đấu với chứng nghiện cả rượu và ma túy, với một tương lai quá ảm đạm. Anh tính đến việc kết liễu đời mình.
Tuy nhiên anh đã không kết liễu mạng sống mình, và hôm nay anh là một linh mục tận hiến thời gian phục vụ các nhu cầu về thể lý và tinh thần của những người đang sống trong nghèo khổ, tù tội và mại dâm.
“Đường phố đưa tôi đến với Giáo hội và Giáo hội cuối cùng lại đưa tôi trở về đường phố,”vị linh mục nói với Journal Metro.
Tháng Mười hai năm ngoái, như là một dấu chỉ của sự hiệp thông và đoàn kết với những người vô gia cư, Cha Paradis quyết định ngủ trên đường phố trong suốt một tháng, để chăm sóc cho người vô gia cư ở đó với tình đoàn kết và bác ái.
Hy vọng của cha là cha có thể đồng hành với những người trong hoàn cảnh khó khăn đồng thời cũng làm cho cư dân Montreal ý thức về thực tại tàn nhẫn mà những người sống trên đường phố đang phải đối mặt.
Cha Paradi thành lập một hội tên là Notre-Dame-de-la-rue (Đức Bà Đường Phố). Mỗi đêm cha đi ra và mang thức ăn và các đồ dùng đến cho những người sống trên các con đường. Cha cũng làm thừa tác vụ các bí tích, dâng Lễ và thậm chí cử hành tang lễ.
Cha được một trong những người cộng tác, Kevin Cardin, cùng đồng hành, người này trước đây cũng nghiện ma túy, nhưng đã tìm được sự giúp đỡ, thay đổi cuộc sống và bây giờ có gia đình. Notre-Dame-de-la-rue được sự hỗ trợ của Đức Tổng Giám mục Christian Lépine của giáo phận Montreal, người miêu tả sáng kiến này là “sự hiện diện của Giáo hội để động viên.” Hội cũng được sự trợ giúp của thành phố.
“Sứ mạng đặc biệt của chúng tôi là đưa ra những sự động viên. Không phải là người cung cấp nơi ăn chỗ ở, một chút giống như dịch vụ tận nhà. Chúng tôi nói chuyện với họ, đôi khi chúng tôi cầu nguyện với nhau trước khi họ lại trở lại để đối mặt với sự khắc nghiệt của đường phố.” Cha Paradis hiểu rõ cuộc sống đường phố khó khăn như thế nào. Sau khi lớn lên ở vùng Gaspé và làm một y sĩ trong Cowansville, cha đến Montreal 25 năm trước.
Tuy nhiên, cha không thể tìm được việc làm. “Sự cô đơn và tuyệt vọng chiếm trọn con người tôi,” cha nói.
Sống trên đường phố, cha đã nghĩ đến chuyện tự tử. “Tôi bắt đầu sử dụng a phiến và sau đó bị nghiện,” cha nhớ lại.
Trong một lá thư được đăng trên website La Victoire de l’Amour (Chiến thắng của Tình yêu), Cha Paradis kể câu chuyện cha gặp gỡ Thiên Chúa.
“Tôi được đặc ân gặp gỡ Thiên Chúa ngay lúc tôi nghi ngờ về Ngài. Trên một con đường nhỏ ở Montreal, hoang vắng không có người, không có một ai ở đó. Đi ngang qua một ngôi nhà thờ cũ, tự nhiên tôi cảm thấy buộc phải đi vào mà tôi cũng chẳng hiểu điều gì, tôi quay trở lại nơi đó.”
Ngay lúc đó cha có được sự gặp gỡ sâu sắc với Thiên Chúa. Cha nhận ra rằng cha không muốn chết nữa, nhưng lại muốn trở thành “một con người của Giáo hội.” Cha Paradis tiếp tục chiến đấu với những cơn nghiện của mình và bây giờ làm thừa tác vụ cho nhiều người đang phải đương đầu với những thách thức mà cha đã phải chiến đấu nhiều năm trước.
Vị linh mục 57 tuổi đã tận hiện trọn phần cuộc sống còn lại cho việc phục vụ người nghèo, cha nói “đường phố là nơi tôi muốn ở đó, cho đến khi tôi chết.”
Bài này được đăng lần đầu trên CNA ngày 17 tháng Một, 2017.
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 05/09/2017]

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget