Articles by "Thánh Lễ - Phụng Vụ"

Tìm hiểu về Lễ Truyền Dầu ?
Sở dĩ gọi là lễ Truyền Dầu, vì trong thánh lễ này, Đức Giám mục sẽ hiến thánh Dầu Thánh, làm phép Dầu Bệnh nhân và Dầu Dự tòng, dùng để cử hành một số bí tích và phụ tích.
Lễ này cũng còn có mục đích tưởng niệm việc Chúa lập bí tích Truyền chức Thánh, tấn phong một số người được tuyển chọn lên làm Linh mục, ban cho các ngài quyền hành động nhân danh Chúa Kitô để làm những việc, đúng ra, chỉ mình Thiên Chúa có thể làm, như tái diễn hy lễ của Chúa Ktiô trên Thánh giá, tha tội cho muôn người, v.v..
Vì Giám mục cũng như linh mục đều được chia sẻ chức linh mục duy nhất của Chúa Kitô, nên sáng nay, các linh mục trong giáo phận được kêu mời về đồng tế với Giám mục của mình, để tỏ tình hiệp thông hiệp nhất giữa Giám mục và linh mục, cũng như giữa các linh mục với nhau. Trong thánh lễ, các linh mục sẽ lặp lại lời các ngài đã tuyên hứa trong ngày thụ phong, để một lần nữa nhắc nhở các ngài luôn ý thức về những bổn phận phải thi hành trong cuộc sống bản thân cũng như các công tác mục vụ, trong khi cố gắng từ bỏ chính mình để gắn bó với Chúa Kitô, nỗ lực nên đồng hình đồng dạng với Người mỗi ngày mỗi hơn và do đó cũng mang lại nhiều lợi ích hơn cho các linh hồn. Giáo Hội kêu mời anh chị em giáo dân cầu nguyện cho các Linh mục, Giám mục, và tích cực cộng tác với các ngài bằng cách thực thi những gì anh chị em có thể làm nhờ chức linh mục cộng đồng Chúa đã trao ban cho anh chị em ngày lãnh nhận bí tích Rửa tội.
(Trích từ Bài Giảng của Đức cha Phêrô Trần Đình Tứ)
Tìm hiểu về Lễ Truyền Dầu?
CHỮ VIẾT TẮT VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁC LOẠI DẦU TRONG THÁNH LỄ DẦU
+ SC (Sanctum Chrisma) – Dầu Thánh.
+ OI (Oleum Infirmorum) – Dầu bệnh nhân.
+ OS (Oleum Sanctum hay Oleum Catechumenorum) – Dầu Dự tòng.
Trên hết là Dầu Thánh còn được gọi là Dầu Chrisma đã được Đức Giám mục hiến thánh là dầu có pha thuốc thơm và dùng trong ba bí tích có ghi ấn tín: được xức cho các tân tòng trong Bí Tích Rửa Tội, cho các kitô-hữu trong Bí Tích Thêm Sức, cho các Linh mục và một cách sung mãn cho các Giám mục trong Bí Tích Truyền Chức. Dầu này còn được dùng để cung hiến bàn thờ và nhà thờ.
Dầu Bệnh Nhân được làm phép trước hết, để xức cho các bệnh nhân. Hội Thánh xin Chúa xoa dịu thân xác các bệnh nhân, viếng thăm và làm cho các bệnh nhân được vững mạnh trong đức tin và niềm hy vọng, giải thoát và làm thuyên giảm những đau đớn, phù trợ những người chăm sóc, cứu thoát bệnh nhân, ban sự sống và sức khoẻ cho họ.
Dầu Dự Tòng được xức cho các dự tòng trước khi Rửa Tội, để qua việc xức dầu này, Hội Thánh xin Chúa ban sức mạnh cho các dự tòng biết chống lại tội lỗi và sự ác, tựa như người lực sĩ được xoa bóp dầu trước khi lên võ đài.
Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (1183) nhắc đến việc cất giữ Dầu Thánh trong nhà thờ như sau: “Dầu Thánh (SC) theo truyền thống, được bảo quản và tôn kính tại một nơi chắc chắn trong cung thánh, vì việc xức dầu này là dấu bí tích cho ấn tín ơn Chúa Thánh Thần. Dầu Dự tòng (OS) và Dầu Bệnh nhân (OI) cũng có thể đặt chung ở đó”.
Nguồn: giaophanxuanloc.net

Thánh Thể lương thực cho người lữ hành, thanh the luong thuc cho nguoi lu hanh
Đi dâng lễ như một thói quen…
Một số không nhỏ các bạn trẻ ngày nay “chán đi lễ”. Họ lý luận: đi dâng lễ mà như đi xem một “vở tuồng cổ”, hoặc vô tình như đi xem “cây sậy phất phơ trước gió” ( Lc 7,24). Từ hình thức đến nội dung, cả đến những cử điệu và phẩm phục… đều không có gì thu hút.
Việc mù mờ về ý nghĩa của các phần trong thánh lễ, những bài đọc:
– Vừa không  hiểu nội dung các bài đọc trong phần Phụng vụ Lời Chúa.
– Vừa thấy nội dung đó không dính dáng gì đến đời sống hàng ngày.
Tình trạng không thấy Thánh lễ dính dáng gì đến cuộc sống thường ngày chắc chắn là tình trạng của hầu hết, cả người trẻ cũng như người lớn, đôi khi cả nơi tu sĩ nữa.
Quả thật, không thiếu tu sĩ khi dâng lễ như một cái xác không hồn, với tâm trạng mệt mỏi, chai cứng. Nói chung là không cảm thấy đó là nhu cầu cần thiết cho đời sống tâm linh. Thánh Thể  lương thực cho cuộc sống trần gian, làm cho niềm tin của người tín hữu kiên vững và mạnh dạn dấn thân vào đời. Thánh lễ là cột sống nâng đỡ cuộc sống giữa đời. Do đó, tình trạng “không hiểu gì” chính là một nguy cơ tiềm ẩn sâu xa của một đời sống yếu kém đức tin.
Trong bối cảnh của năm “Đời sống thánh hiến” (2015) và năm Thánh mừng 50 năm thành lập Giáo phận Xuân Lộc với chủ đề: sống mầu nhiệm Thánh Thể. Vì quả thực bí tích Thánh Thể vừa là sức sống vừa là sức mạnh cho đời dâng hiến.
I. TỪ NHU CẦU CUỘC SỐNG
1. Từ phép lạ hoá bánh đến Bí tích Thánh Thể
Mầu nhiệm Thánh Thể được Chúa Giêsu tiên báo từ trong phép lạ hoá bành ra nhiều, sau khi đã cho dân chúng ăn bánh no nê (x. Ga 6). Đó không phải là chuyện tình cờ, nhưng là nguồn mạch cuộc đời của bí tích Thánh Thể.
Nói cách khác, Thánh Thể cũng xuất phát từ câu hỏi của Chúa Giêsu “ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây”; và Thánh Thể cũng chính là “bánh” nuôi dưỡng cuộc sống con người, một thứ bánh làm cho đời sống con người được sung mãn, thứ bánh thực sự đáp ứng nhu cầu thâm sâu của con người, nhu cầu sống với Thiên Chúa, như đã được Thiên Chúa sáng tạo. Như thế, trong ý định của Chúa Giêsu, Thánh Thể có khả năng làm cho cuộc sống con người được “sống và sống dồi dào” trong mọi chiều kích, làm cho tất cả mọi phẩm tính của bản chất người được phát triển và làm cho vận mạng con người được hoàn thành.
Trong chiều hướng thần học Cánh chung của Vatican II, cần phải khám phá ra dưỡng chất của Thánh Thể không phải chỉ là một “công nghiệp pháp lý” dùng để đổi chác lấy Nước Trời, nhưng chính là nguồn sức mạnh của Thánh Thần trong dòng lịch sử để biến đổi lịch sử, nghĩa là chắc chắn bao gồm những giá trị nhân bản của Tin Mừng cũng như những giá trị siêu việt trong khát vọng thâm sâu của con người.
 “Thực vậy, sau khi đã theo mệnh lệnh và nhờ Chúa Thánh Thần phổ biến trên trái đất tất cả các giá trị về nhân phẩm, về hiệp thông huynh đệ và tự do, nghĩa là mọi thành quả tốt đẹp do bán tính và hoạt động của con người đem lại, chúng ta sẽ gặp lại chúng, nhưng là gặp lại sau khi chúng được thanh tẩy khỏi mọi tì ố, được chiếu sáng và biến đổi, nghĩa là Chúa Kitô giao hoàn lại Chúa Cha Vương quốc vĩnh cửu và đại đồng : “vương quốc của chân lý và sự sống, vương quốc thánh thiện và ân phúc, vương quốc công bình, yêu thương và hoà bình” (kinh tiền tụng lễ Chúa Kitô Vua). Vương quốc ấy đã hiện diện cách mầu nhiệm ở trần gian này và sẽ được kiện toàn khi Chúa đến” (MV 39c)
2. Một vài đường hướng thần học không còn phù hợp
Có một vài hướng suy tư thần học trước đây đã khiến cho bí tích Thánh Thể, hình như, làm giảm nhẹ đi nguyên lý cứu độ như một sự đáp ứng nhu cầu thật của con người, để nghiêng về các nguyên lý khác, nguyên lý đánh giá và nguyên lý công bằng của luật pháp, nguyên lý siêu thoát… Chúng ta có thể kể ra một chút những lý do ấy :
a. Nguyên lý công bằng theo luật pháp
Nền Thần Học Cứu Độ thời đầu Kinh viện đã trình bày Ơn Cứu Độ của Đức Giêsu bằng khái niệm đền thay. Đức Giêsu lập công nghiệp để đền thay cho tội lỗi của nhân loại đối với sự công bằng vô cùng của Chúa Cha.
Lối nhìn này biểu lộ chiều hướng “thượng thăng” trong nhiệm cục cứu độ, phát triển vào đầu thiên niên kỷ thứ hai, khác với chiều hướng “hạ giáng” của thiên niên kỷ thứ nhất. Đồng thời lối nhìn này cũng cắt lìa cuộc Tử Nạn lập công của Đức Giêsu với toàn bộ cuộc đời công khai của Ngài cũng như với cuộc Phục sinh của Ngài. Theo nền thần học đền thay, cuộc đời công khai của Đức Giêsu chỉ là phần dẫn nhập không quan trọng và cuộc Phục sinh của Đức Giêsu cũng chỉ là phần kết luận để khẳng định quyền năng của Thiên Chúa, đáp ứng cho nguyên lý danh dự mà thôi.
Lối nhìn này làm cho Mầu Nhiệm Nhập Thể chỉ còn có một nhiệm vụ duy nhất là lập công cứu chuộc đền bù lại đối với sự công bằng của Chúa Cha. Chính vì thế, mọi giá trị trong cuộc đời Đức Giêsu, trong giáo huấn của Đức Giêsu, trong sứ vụ công khai của Đức Giêsu đều trở nên phụ thuộc và có thể nói là dư thừa nếu so với công nghiệp của Ngài được thể hiện trọn vẹn trong cái chết.
Ngày nay, ý thức được những thiếu sót trong nền thần học“đền thay”, nói chung, người ta không coi cái chết của Đức Giêsu chỉ như một sự lập công, nhưng là liên đới, là thái độ dấn thân yêu thương đến cùng, là thể hiện những giá trị của bài giảng trên núi, thể hiện những giá trị mới của Nước Trời và trung tín đến cùng để đảm bảo cho những giá trị Nước Trời trở nên như men, như hạt cải lớn lên trong trần gian.
Thiên Chúa đã ban Thần Khí để Đức Giêsu đến với những người nghèo hèn bé mọn nhất trong xã hội, để chia sẻ, cảm thông và ban cho họ niềm hy vọng Cứu Độ.
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã sức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn…” (Lc 4, 18-19). Ngài đã đến thể hiện ý nghĩa yêu thương, liên đới, cảm thông với những mảnh đời sống bên lề xã hội. Vinh quang của Thiên Chúa là con người được hạnh phúc (Thánh Irênê)
b. Nền thần học phi lịch sử
Còn một ảnh hưởng quan trọng nữa, đó là nền thần học nói chung và tu đức nói riêng mang tính cách siêu thoát. Nền thần học và tu đức này đã ảnh hưởng sâu xa suốt mọi thời gian dài trong Giáo Hội, khiến cho đời sống đức Tin của người Kitô không dính dáng gì đến những thách đố của cuộc sống, những dấu chỉ của thời đại[1].  Chúng ta thấy, trong Công Đồng Vatican II, đã có một cuộc đấu tranh giữa khuynh hướng thần học phi lịch sử và nền thần học nhấn mạnh đến tính cách lịch sử căn bản của ơn cứu độ[2]. Từ những dữ kiện ấy, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa hết sức quan trọng của nền thần học Cánh chung trong Công Đồng Vatican II.
Thánh Thể phải gắn liền với cuộc sống con người, không phải chỉ như một kho ân sủng nhưng như một sự liên đới cụ thể và mãi mãi, một sự liên đới được thể hiện trong mỗi dòng lịch sử cuộc đời của mỗi người để biến cuộc đời của mỗi người Kitô hữu thành một Lịch Sử Cứu Độ.
II. CẤU TRÚC CỦA THÁNH LỄ GẮN LIỀN VỚI THỰC TẾ CUỘC SỐNG
Trong chiều hướng tìm cách gắn liền Thánh Thể với cuộc đời, xin thử xác định ý nghĩa cuộc sống trong một vài chặng quan trọng cơ cấu Thánh lễ hiện nay
1.  Phụng vụ Lời Chúa
Lời Chúa là lời ngỏ, lời ngỏ với chính mỗi người, với hoàn cảnh cụ thể riêng biệt của mỗi người. Lời Chúa “khám bệnh và chữa lành” cho các mảnh đời và làm cho con người biết được chính mình, biết được Chúa làm trên cuộc đời mình. Bài giảng chính là một tác động của Thánh Thần làm cho Lời Chúa đụng đến cuộc đời và mảnh đời riêng của mỗi con người như là một lời ngỏ thân tình của Thiên Chúa.
2. Phần Dâng Lễ
Lễ dâng là chính mảnh đời của mỗi người trong từng trạng huống của cuộc sống, được sắp xếp để trở thành lễ dâng. Tóm lại, cuộc đời gồm thành công, thất bại, cả những yếu đuối và cả tội lỗi,  được gói ghém lại trong tấm bánh và chén rượu để trở thành lễ dâng.
Nói cách khác. Lễ dâng trong mỗi thánh lễ, dù vẫn là bánh rượu, nhưng khác nhau, với những nội dung khác nhau vì gồm gói những mảnh đời khác nhau. Như thế, người linh mục, cầm bánh và rượu trong tay, là cầm chính mảnh đời hàng ngày, nóng bỏng và xù xì của con người để dâng cho Thiên Chúa.
3. Phần Truyền Phép
“Truyền phép” là ký giao ước để Đức Giêsu lại một lần nữa chịu chết và Phục sinh cho một mảnh đời của con người. Đức Giêsu đón nhận mảnh đời, những vấn đề của con người như chính “Thịt và Máu” của chính mình. Mầu nhiệm “biến đổi bản thể” cho thấy một thứ trao đổi cuộc đời cho nhau. Chúa đón nhận cuộc đời ta như của chính Chúa; và ta được đồng thừa tự với Ngài trong chức vị làm con của Chúa Cha.
Nhờ cuộc trao đổi ấy, chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa Cha chính cuộc đời của mình trong Đức Giêsu và có thể thân thưa lời Abba với Chúa Cha trong Thần Khí Nghĩa Tử của Đức Giêsu.
4. Phần Hiệp Lễ
Cuối cùng, rước lễ là đón nhận lại chính cuộc đời của mình; nhưng là một cuộc đời đã có Đức Giêsu ở trong, đã ký giao ước với Chúa Giêsu để Ngài cùng lo, cùng liên đới trách nhiệm, cùng bắt tay vào cuộc.
Trong mầu nhiệm trao đổi cuộc đời, Tấm bánh và chén rượu vẫn còn hình bánh rượu, nhưng bản chất của chúng đã không còn; thì cũng thế, khi rước lễ cuộc đời chúng ta sẽ được đón nhận và mảnh đời ấy vẫn mang dáng vẻ xù xì, vẫn đầy gian lao và có thể ra như thất bại;nhưng thật ra, mảnh đời ấy đã được thánh hoá trong sự chết và Phục sinh của Đức Giêsu, chúng được hoàn thành, chúng được “biến đổi ý nghĩa” trong tình yêu và trong lễ dâng của tấm lòng.
III. VIỆC TUYÊN KHẤN TRONG BÀN TIỆC THÁNH THỂ
Trong bữa tiệc ly : “Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông” (Mc 14,22). Các nhà tu đức và phụng vụ đều cho rằng những động tác này mang tính phụng vụ và mời gọi chúng ta sống ý nghĩa “dâng hiến” của mình, nhất là mỗi lần ta hiệp dâng thánh lễ[3]. Xin tóm tắt sơ lược ý nghĩa:
1. Người cầm lấy bánh : tay Chúa đặt lên đời ta và dẫn đưa ta,
2. Người dâng lời chúc tụng : Chúa đã chấp nhận và thánh hiến việc tận hiến của ta … Từ nay, cuộc đời  của ta đều dành riêng cho Người.
3. Người bẻ ra : thời giờ, sức khoẻ, khả năng … đời ta tuỳ thuộc nơi Chúa và nơi Hội Dòng định liệu vui nhận cả những khó khăn khi thi hành ý Chúa.
4. Và trao cho các ông : tuyên khấn cho sứ vụ. Y nghĩa của việc sai đi. Thần Khí Chúa đã sai tôi đi.
Kết luận : Lễ dâng cuộc đời
Cuộc đời của người tín hữu là cuộc lữ hành đức tin. Người tín hữu sống đức tin giữa lòng đời hôm nay, giữa những éo le của đời sống. Trước một thế giới duy tục, đề cao hưởng thụ, người tín hữu dễ bị lôi vào thế “mê hồn trận”. Thánh lễ giúp người tín hữu sống mật thiết với Chúa Kitô: nhập thể, loan giảng Tin Mừng cứu độ, đi vào cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Chúa. Nhờ sống mầu nhiệm Thánh lễ giúp họ xây dựng nước trời giữa trần gian này.
Thánh lễ là hy tế tạ ơn vô giá. Như giọt nước hoà tan trong chén rượu, trở nên máu Thánh Chúa; đời sống của ta có phần trong lễ dâng của Chúa Kitô. Sau lễ tạ ơn, tiếp đến là Thánh lễ cuộc đời, bao gồm cả vui buồn, sướng khổ, được dâng lên Chúa, và trái tim ta cảm thấy ấm áp, tràn trào niềm vui.
 Lm. Đa Minh Đinh Viết Tiên

Gợi ý suy niệm:
1. Phải chăng đời tu thường rất dễ rơi vào tình trạng “đứng trên” cuộc đời, ở ngoài những ưu tư khắc khoải, nhưng nghịch lý đớn đau của cuộc sống ?
Phải chăng chính thực trạng ít quan tâm đến cuộc đời của tầng lớp tu sĩ, linh mục đã góp phần không nhỏ làm cho Thánh Thể chỉ diễn tả thuần ý nghĩa thượng thăng ?
Bạn đã bước vào Thánh lễ với tâm trạng nào ? Bạn có dành thời giờ để tạ ơn Chúa không ?
2. Theo bạn, để được sinh động và sốt sắng, chúng ta phải tổ chức thánh lễ như thế nào ? (về khung cảnh bài trí, chọn các bài đọc, nội dung bài hát, bài giảng, lời cầu của cộng đoàn).

[1]Xc Dictionare de la Vie spiritualles Sđđ. Art. Signes desTemps
[2]Xc Yves Congar. Con người và Tư Tưởng. Trung Tâm Học Vấn Đa Minh. 2005, trang 208-209. Rosimo Gibellimi. Panotama de la Théologie au XX è S. Cert. Paris 1994. pp 225-241

[3]Đã triển khai trong bài Bí tích Thánh Thể và cộng đoàn tu trì.

Tại sao gọi là "Chúa các đạo binh", tai sao goi la chua cac dao binh
Trong thánh lễ, sau kinh Tiền tụng, tất cả cộng đoàn hát lên lời tung hô: “Thánh, Thánh, Thánh, Chúa là Thiên Chúa các đạo binh”. Tại sao gọi là “Thiên Chúa các đạo binh”?Phải chăng Chúa có một quân lực hùng hậu, bách chiến bách thắng?
Lời chúc tụng “Thánh thánh thánh” được trích từ đoạn văn Isaia chương 6, câu 2-3, mô tả một thị kiến trong đền thờ: Thiên Chúa hiện ra với ông Isaia như là một hoàng đế lâm triều, ngự trên ngai, và các thần Sêraphim tung hô: “Thánh thánh thánh, Đức Chúa các đạo binh là Đấng thánh. Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa”. Ngay từ thế kỷ thứ nhất, lời chúc tụng này đã được du nhập vào phụng vụ Kitô giáo như chúng ta thấy vết tích nơi sách Khải huyền, chương 4 câu 8. Nguyên ngữ của cụm từ “Chúa các đạo binh” trong tiếng Hipri là “Yahweh Sabaoth”. Từ ngữ này xuất hiện 279 lần trong Cựu ước. “Thiên Chúa các đạo binh” có nghĩa là gì? Các tác giả đưa ra ít là ba lối giải thích:
(1) Thứ nhất, “Chúa các đạo binh” có nghĩa Chúa của quân lực Israel. Trong quan niệm cổ thời, mỗi dân tộc đều có một vị thần che chở. Vì thế trong các cuộc chiến đấu để bảo vệ quê hương hay để chiếm thêm đất đai, người ta cầu khẩn vị thần, xin ngài đích thân chỉ huy đạo quân nhà. Dĩ nhiên, các cuộc chiến thắng đều được quy cho ngài, nghĩa là nhờ có ngài mà quân ta đã thắng. Còn nếu mà thua trận thì người ta giải thích là hoặc tại vì thần giận dữ, bỏ rơi quân ta, hoặc tại vì thần của mình yếu thế, không địch nổi với thần chỉ huy đạo quân của đối phương. Chúng ta có thể thấy tư tưởng này ở sách 1 Samuel (4,4), khi mà Israel kiệu hòm bia thánh được đặt tại điện Silô (hòm bia giao ước của Đức Chúa các đạo binh) trong cuộc chiến với người Philitinh. Lúc đầu, sự hiện diện của hòm bia đã tăng thêm tinh thần chiến đấu cho Israel; nhưng tiếc rằng họ bị mất hòm bia và sự thất trận được giải thích như bị Chúa bỏ rơi.
(2) Ý kiến thứ hai cho rằng “đạo binh” ở đây không phải là quân lực Israel, nhưng là đạo binh thiên quốc. Người ta hình dung rằng Thiên Chúa có một đạo binh ở trên trời: Ngài được ví như Ngọc hoàng, cũng có triều đình và quân lực. Vì thế mà khi cần giao tranh với các lực lượng đối nghịch, thì Ngài sẽ sai đạo binh thiên quốc đến chấp hành kế hoạch. Nói khác đi, đạo binh thiên quốc chính là các thiên sứ. Tư tưởng này có lẽ chịu ảnh hưởng của văn hóa Babylon, như đọc thấy trong các ngôn sứ sau thời lưu đày, và còn phảng phất nơi Tân ước khi Chúa Giêsu nói với ông Simon Phêrô trong vườn Cây dầu: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần!” (Mt 26,52-53).
(3) Sau cùng, ý kiến thứ ba cho rằng “đạo binh” ở đây hiểu theo nghĩa bóng, tức là các tinh tú trên trời. Thiên Chúa là Đấng Tạo hóa, thống lĩnh mọi lực lượng trên trời dưới đất, mây mưa sấm chớp, vv. Hiểu như vậy cho nên bản văn phụng vụ tiếng Pháp dịch là “Chúa của vũ trụ” (Dieu de l’univers). Bản dịch tiếng Italia, Tây ban nha cũng vậy.
Có phải vì thế mà bài ca chúc tụng tiếp theo với những lời “Trời đất đầy vinh quang Chúa, Hoan hô Chúa trên các tầng trời” không?
Đúng có một phần thôi. Phần đầu “trời đất đầy vinh quang Chúa” thì dịch sát với nguyên bản La-tinh. “Trời và đất” trong tiếng Do thái có nghĩa là toàn thể thụ tạo. Trời đất đầy vinh quang Chúa, bởi vì chúng biểu lộ sự hiện diện và các ưu phẩm của Ngài; vì thế mọi loài được mời gọi để chúc tụng Ngài. Câu tiếp theo thì dịch không sát chữ, bởi vì nguyên bản là “hoan hô trên chốn cao thẳm” (in excelsis) chứ không phải là “trên các tầng trời”; nhưng mà dĩ nhiên là ý nghĩa cũng như nhau.
Thiên Chúa ngự ở trên trời, hay chính Ngài là Trời?
Trong Kinh thánh, tiếng “Trời” được hiểu theo nhiều nghĩa. Dù sao, chúng ta đừng quên rằng Kinh thánh được viết cho những người sống trong một nền văn hóa bình dân, khi mà các khoa học về thiên văn và vũ trụ chưa phát triển như thời nay. Người thời cổ quan niệm vũ trụ cách đơn giản như thế này: loài người sống trên mặt đất; mặt đất được bao phủ ở trên bằng cái vòm, với các hành tinh soi chiếu cũng như những kho dự trữ nước mưa và gió; ở dưới đất có những hồ và hố (nghĩa là vực thẳm, đôi khi cũng gọi là âm phủ). Dần dần, với sự tiến triển của sự quan sát và suy luận, những cách hình dung về trời càng lúc càng trở nên phức tạp hơn. Có khi người ta quan niệm trời như cái mái của đất, vì thế có bốn cái cột để chống đỡ cho khỏi sụp. Nhưng có khi người ta quan niệm trời giống như một thế giới khác, gồm có nhiều tầng (các tầng trời), và nhất là gồm những cư dân thuộc loài cao cấp, chẳng hạn như các thiên thần. Tiến thêm một bước nữa, người ta hình dung thế giới trên trời là cả một tổ chức tinh vi toàn hảo gấp mấy lần hạ giới này, bởi vì trời là nước của Đấng Tạo hóa: ngài là Vua trên trời, là Ngọc hoàng Thượng đế.
Như vậy tư tưởng của Kinh thánh cũng trùng hợp với nhiều tôn giáo Á Đông hay sao?
Có chỗ trùng hợp nhưng có chỗ không trùng hợp. Trùng hợp ở chỗ không phải riêng gì tại Á đông mà nhiều dân tộc khác trên thế giới hình dung Trời là nơi Chúa ngự (Chúa ngự trên chốn thiên đình), và thậm chí họ coi Trời là một thần linh. Từ đó mà ta thấy có những từ ngữ như là: “mặt trời” (cái mặt của trời), màu “da trời”; hoạc lời kêu cầu: “Trời ơi!”. Tuy nhiên cũng có chỗ khác biệt. Sự khác biệt chính yếu ở chỗ tác giả Kinh thánh coi Trời là thụ tạo, nghĩa là do Chúa dựng nên. Nói khác đi, trời không phải là Chúa mà chỉ là tác phẩm do Ngài dựng nên. Theo các học giả, điều này nhằm bài trừ tục lệ thờ mặt trời, mặt trăng hoặc các tinh tú, rất thịnh hành ở miền Trung đông. Kinh thánh nhấn mạnh rằng các tinh tú chẳng phải là thần linh gì hết; chúng chỉ là “đèn trời” được dựng nên để soi sáng trái đất mà thôi.
Kinh thánh có dùng từ ngữ “Chúa Trời” như ở bên Việt Nam không?
Có. Chúa Trời được hiểu theo ít là hai nghĩa. 1/ Nghĩa thứ nhất: ngài là Chúa trời bởi vì như vừa nói, ngài đã dựng nên trời đất, và ngài làm chủ trời đất. Ta tạm gọi đây là nghĩa triết lý. 2/ Nghĩa thứ hai: Chúa Trời được hình dung Đấng ngự ở trên trời cao. Đây là một lối hình dung bình dân. Loài người chúng ta ở hạ giới, còn Thiên Chúa ngự trên trời (thiên giới), ngài là Vua trên trời. Quan niệm bình dân hình dung ngài như một Hoàng đế (Thượng đế, Thiên hoàng) với cung điện, quần thần (quen gọi là các thiên thần). Từ ngữ “Thiên Chúa các đạo binh” thành hình trong bối cảnh đó. Dĩ nhiên, điều này giả thiết một nền văn hóa với tổ chức xã hội quy củ. Thực vậy, theo các sử gia, vào những chặng đầu của lịch sử dân Do thái, khi họ còn sống trong trạng thái du mục, thì họ hình dung Thiên Chúa như Chúa của bộ tộc, Chúa của tổ tiên, vị thần luôn che chở bảo vệ họ. Sang đến giai đoạn lập quốc, họ mới hình dung Thiên Chúa như là Vua, bảm đảm công lý, bênh vực người nghèo, trừng phạt kẻ phạm pháp. Dù sao đi nữa, Thiên Chúa của Israel không phải là một vị Ngọc hoàng an toạ trên chốn cửu trùng, nhưng là một Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử của dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại.
Những tư tưởng vừa nói có còn giá trị trong Tân ước nữa không?
So sánh với Cựu ước thì Tân ước vừa có chỗ tiếp nối vừa có chỗ đổi mới. Chúng ta thấy sự tiếp nối ở chỗ vẫn còn duy trì tư tưởng “Chủ tể trời đất” (thí dụ như Mt 11,25), và tư tưởng “Chúa ngự trên trời” (Mt 5,35). Đổi mới ở chỗ là vị Chúa tể trời đất đồng thời cũng là “Cha”. Trong bài giảng trên núi, chúng ta gặp thấy nhiều lần cụm từ “Cha các con, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16.45; 6,1.19; 7,11,21), đặc biệt là trong kinh Lạy Cha. Ngài là Cha chứ không phải là Ngọc Hoàng ngự trên chốn cao vút xa cách nhân thế. Cha trên trời chú ý săn sóc đến các con cái, thậm chí đếm cả sợi tóc trên đầu chúng ta. Như vậy, tuy ngự ở trên trời, nhưng Ngài rất gần gũi với chúng ta. Một điểm đổi mới quan trọng nữa là nhờ cuộc nhập thể của Đức Kitô, trời và đất được nối kết với nhau. Đức Kitô là Lời Thiên Chúa từ trời xuống cắm lều cư ngụ ở giữa chúng ta, để đưa chúng ta lên trời với Chúa. Dĩ nhiên, ta đừng nên hiểu động từ “lên xuống” theo nghĩa vật lý hay địa lý, nhưng là theo nghĩa bóng, như sách Giáo lý Hội thánh công giáo đã lưu ý khi chú giải kinh Lạy Cha (các số 2794-2795). Trời không ám chỉ một chỗ nào, một khoảng không gian nào, nhưng nó diễn tả một trạng thái hiện hữu. Thực vậy, Thiên Chúa không có thân xác: ngài không ngự không đứng không ngồi ở một chỗ nào hết. Ngài vượt xa các tầng trời. Hiểu như vậy, khi nói rằng chúng ta đang trên đường lữ hành về quê trời, thì đừng nên hiểu là chúng ta đang tìm cách bắt thang vọt lên các tầng mây, nhưng nên hiểu là chúng ta được Thiên Chúa đem về chia sẻ hạnh phúc với Ngài. Luôn tiện cũng nên ghi nhận rằng ở trong Tân ước, đôi khi tiếng “trời” được dùng thay cho Thiên Chúa. Điều này khá rõ rệt ở nơi Phúc âm theo thánh Matthêu, khi mà cụm từ “Nước Thiên Chúa” được đổi thành “Nước trời”. Cách riêng, trong dụ ngôn về đứa con hoang đàng, Luca thuật lại lời xưng thú của chàng ta như sau: “Thưa cha, con đã phạm tội với Trời và với cha”. Câu nói được lặp lại hai lần trong trình thuật đó (Lc 15, 18.21). Con đã phạm tội “với Trời” có nghĩa là phạm tội với Chúa.
Linh mục Giuse Phan Tấn Thành, OP

Ba dạng phép rửa, ba dang phep rua
Sự kiện Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là gạch nối giữa hai giai đoạn quan trọng: sống ẩn dật 30 năm âm thầm với gia đình tại Nadarét và rao giảng công khai sứ vụ loan báo Tin Mừng. Đây cũng là gạch nối giữa hai mùa phụng vụ : Giáng sinh và Thường niên.
Hôm nay Chúa nhật I thường niên, Giáo Hội sẽ cùng đồng hành với Chúa Giêsu qua các biến cố của đời rao giảng, khởi đầu là sự kiện Chúa chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả tại sông Giođan.
Bài Tin Mừng nói đến ba dạng Phép rửa.
1. Phép rửa sám hối.
Đây là Phép Rửa bằng nước do Gioan thực hiện tại sông Giođan “Tôi làm phép rửa bằng nước để làm dấu hiệu cho thấy anh em đã ăn năn sám hối “(Mt 3,11). Ai chịu phép rửa đều phải có một thái độ nội tâm cũng như bên ngoài, phải tin vào sứ điệp của Gioan, phải trở lại thực lòng, phải quay về với Thiên Chúa.Tuy nhiên, phép rửa của Gioan chỉ có tính cách tượng trưng, tự nó không có sức xóa bỏ được tội lỗi mà chỉ là nghi thức nhắc nhở cho mọi người phải ăn năn sám hối và cải thiện đời sống. Phép rửa sám hối chỉ là nghi thức mang tính tẩy trần, nếu có giá trị thì chỉ theo quy định của lề luật thôi, còn chưa có hiệu quả đích thực tôn giáo. Chính Gioan Tẩy Giả đã minh định : “Đấng cao trọng hơn tôi đang đến, Ngài quyền phép hơn tôi, chính Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và bằng lửa”. (Mt 3,11). Gioan làm phép rửa sám hối để dọn lòng dân chúng đón chờ Đấng Cứu Thế.
2. Phép rửa mạc khải.
Khởi đầu cuộc sống công khai, Chúa Giêsu tìm đến sông Giođan để xin Gioan Tẩy Giả cử hành phép rửa cho mình. Phép rửa Chúa Giêsu chịu là Phép rửa mạc khải về một kỷ nguyên mới đã bắt đầu. Chính khung cảnh thần hiển của bài Tin mừng kể là một mạc khải sống động về Ba Ngôi: Chúa Giêsu cúi mình trên dòng nước, Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới hình bồ câu và tiếng Chúa Cha xác nhận “Này là Con Ta yêu dấu”.
Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” ( Mc 1,5) và chịu “ phép rửa sám hối để đước ơn tha tội” (Mc 1,4) lại có Chúa Giêsu. Người là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối ? Người là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài ” lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình được chịu thanh tẩy? Đây là động thái gây kinh ngạc cho con người thời nay, vì khó hiểu: Đấng không có tội lại đi nhận phép rửa làm gì? Nhưng người ta cũng sớm hiểu ra rằng: phép rửa của Gioan Tẩy Giả chỉ là nghi thức mang tính tẩy trần, nếu có giá trị thì chỉ theo quy định của lề luật thôi, còn chưa có hiệu quả đích thực tôn giáo. Chính Gioan Tẩy Giả đã minh định: “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng đến sau tôi sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và trong lửa”. Khi Chúa Giêsu nhận phép rửa này, ngoài việc “nhập thế đến cùng”, khiêm tốn xếp hàng đứng chung với các tội nhân đợi chờ đến phiên, Người còn hữu ý qua động thái có một không hai đó, công khai khởi đầu cuộc sống mới: cuộc rao giảng Tin Mừng cho mọi người.
Có ba dấu hiệu bài Tin mừng mạc khải không những tiên báo sự sống lại vinh hiển của Đức Kitô mà còn tiên báo thời đại ân sủng mà Người mang đến cho loài người.
-Dấu hiệu 1 : Trời mở ra.
Sách Sáng thế đã nói : Ađam và Evà phạm tội, cửa thiên đàng đóng lại (St 3,23-24). Qua biết bao thế kỷ, Dân Thiên Chúa đã thiết tha cầu nguyện “Ôi ước chi Ngài xé rách các tầng trời và ngự xuống” (Is 64,1). Nhờ Chúa Kitô, từ nay trời mở ra, một kiểu nói của Thánh Kinh ngụ ý là con người từ nay được sống thông hiệp với Thiên Chúa.
-Dấu hiệu 2 : Thánh thần ngự xuống như chim bồ câu.
Sách Sáng Thế có nói:Trước khi tạo dựng trời đất thì “Thánh Thần Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1,2) như để thông truyền sức sống. Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới hình chim bồ câu thì ngụ ý: Chúa Giêsu là con người mới và trong Người nhân loại sẽ được tạo dựng lại, sẽ được đổi mới. Chính Thánh Phaolô xác định : “Điều quan trọng chẳng phải là việc cắt bì hay không cắt bì, nhưng là trở thành tạo vật mới” (Gal 6,15)
– Dấu hiệu 3 : Lời của Chúa Cha : “Con là con yêu dấu của Ta”.
Qua lời tuyên bố này chúng ta nhận biết Đức Giêsu là con thật của Thiên Chúa, và sau này Đức Giêsu dạy cho biết: những ai tin vào Người và nhận phép rửa nhân danh Người thì cũng được thông phần vào địa vị làm con Thiên Chúa.
3. Phép Rửa tái sinh.
Phép Rửa của Gioan là Phép Rửa bằng nước mời gọi sám hối. Phép rửa của Chúa Giêsu là Phép Rửa tái sinh. Phép rửa này ban cho người được rửa một đời sống mới. Thánh Phaolô đã giải thích về đời sống này cho những người vừa được rửa tội như sau: “Khi được rửa tội, anh em được an táng với Đức Kitô và trong phép rửa anh em cũng được sống lại với Đức Kitô. Anh em đã từng bị chết về mặt tâm linh nhưng giờ đây Thiên Chúa đã mang anh em đến nguồn sống cùng với Đức Kitô.”(Cl 2,12-13). Như vậy qua Phép Rửa tái sinh, Chúa Giêsu chia sẻ cho những người được rửa tội đời sống thần linh của Ngài. Đó là sự sống trong Chúa Ba Ngôi. Người tín hữu trở thành thành viên trong Dân Chúa Cha, chi thể trong Thân Mình Chúa Kitô và viên đá sống động kiến tạo Đền Thờ Chúa Thánh Thần, nghĩa là trở nên con cái Thiên Chúa và được thông phần vào sự sống của chính Thiên Chúa hằng sống. Bí tích Rửa tội chính là một phép lạ cả thể tác động trên một cá thể trong suốt chiều dài cuộc sống. Người ta được tắm gội trong sự chết và phục sinh của Đức Kitô và được thần hóa một cách nhiệm mầu, để từ đó có thể phát biểu ngất ngây như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”, hay đầy xác quyết như thánh Augustinô: “Chúa đã tạo dưng con người cách lạ lùng và còn tái tạo con người cách lạ lùng hơn nữa”.
Bí Tích Rửa Tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cửa ngõ dẫn vào đời sống thần linh và mọi bí tích khác. Nhờ bí tích này chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và tái sinh làm con cái Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô, được gia nhập và tham dự sứ mạng của Hội Thánh (GLCG #1213).
Bí Tích Rửa Tội tha thứ nguyên tội, mọi tội cá nhân và các hình phạt do tội. Bí Tích Rửa tội cho tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ ơn thánh hoá, nhờ ơn công chính hoá giúp tháp nhập vào Đức Kitô và Hội Thánh. Bí tích này cho tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và tạo nền tảng cho sự hiệp thông với tất cả các Kitô hữu. Bí tích này trao ban các nhân đức đối thần và các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Người lãnh nhận bí tích Rửa tội thuộc về Đức Kitô luôn mãi: họ được đóng ấn không thể xóa được của Đức Kitô (GLCG #263).
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan tại sông Giođan đã làm nên lịch sử và đã được Giáo hội chọn làm khởi điểm cho mùa thường niên là mùa phụng vụ cử hành các mầu nhiệm cuộc đời rao giảng tin mừng của Chúa Giêsu. Biến cố này không chỉ là cuộc bàn giao cũ mới mà còn là điểm giao duyên giữa trời và đất, giữa Thần khí và nước, giữa Tân ước và Cựu ước. Từ nay nhân loại được tái sinh trong đời sống mới. Qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được tái sinh trong của Chúa Giêsu nhờ ghi dấu ấn tín của Chúa Thánh Thần và được trở nên con cái Thiên Chúa. Trong phép lần hạt Năm Sự Sáng, gẫm thứ nhất, chúng ta vẫn đọc: “Thứ nhất thì ngắm, Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa”. Theo gương Mẹ Maria, chúng ta xin được sống gắn bó với Chúa Giêsu mật thiết hơn, để xứng đáng là những người con yêu dấu của Thiên Chúa.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Phó Tế là gì?
Phó Tế là gì, pho te la gi
Trong cuộc tiếp kiến dành cho 870 Nữ Bề Trên Thượng Cấp của các Dòng Tu Công Giáo, Đức Thánh Cha đã ủng hộ niềm mong ước muốn thực hiện một cuộc nghiên cứu sâu hơn về chức Phó Tế của nữ giới. Vì sự ủng hộ này của Đức Thánh Cha, nên cứ sự thường, một Ủy Ban sẽ được thành lập trong nay mai để bận tâm tới câu hỏi: các chức vụ có nguồn gốc từ Giáo hội sơ khai được hiểu một cách chính xác là gì trong Giáo hội thời ấy? Và một nam Phó Tế hay một nữ Phó tế được hiểu một cách chính xác là gì? Nhân đây chúng tôi xin thực hiện một cuộc tìm hiểu nho nhỏ về ý nghĩa và nhiệm vụ của các Phó Tế.
Nói chung, các Phó Tế (ở đây chúng tôi xin chỉ nói về các Nam Phó Tế) được ban Bí Tích Thanh Tẩy, được giảng dậy, nhưng không được cử hành Thánh Lễ và cũng không được phép ban Bí Tích Cáo Giải. Các Phó Tế đứng ở bậc thứ nhất của ba bậc chức Thánh trong Giáo hội; chức Linh mục và chức Giám mục đứng ở hai bậc sau đó. Ngoài ra, từ năm 1968, trong Giáo hội Công Giáo còn có thêm một chức được gọi là chức “Phó Tế vĩnh viễn”: Vị Phó Tế này được phép lập gia đình và được phép hành nghề dân sự.
Theo nguyên ngữ Hy-lạp, Diakonos – Phó Tế – có nghĩa là “Người Phục Vụ”; trong các bức thư của Tân Ước, chẳng hạn như trong thư Rô-ma 16,1, cụm từ Diakonos ám chỉ tới một người nam, kể cả nữ, mang một “chức vụ” trong cộng đoàn. Tư tưởng Thần Học có tính nền tảng dựa trên quan điểm rằng, sự sống và cái chết của Chúa Giê-su chính là một sự phục vụ đối với chúng ta, và vì thế, sự phục vụ nên trở thành thái độ chính yếu của người Ki-tô hữu và của người dấn thân trong Giáo hội. Đó là một tư tưởng mà Đức Thánh Cha Phan-xi-cô không ngừng tái nhấn mạnh. Sách Tông Đồ Công Vụ tường thuật lại cho biết, các Tông Đồ của cộng đoàn sơ khai đã bổ nhiệm một số nam giới để họ “phục vụ bàn ăn”, và trong số những người được bổ nhiệm đó, có Thánh Stê-pha-nô. Điều đáng lưu ý ở đây là, Thánh Lu-ca, tức tác giả sách Tông Đồ Công Vụ, đã tránh dùng thuật ngữ Diakon khi tường thuật lại biến cố này.
Trong Tân Ước, không thấy có chỗ nào nói về hoạt động giảng dậy của Diakon – Phó Tế; vì thế các nhà Thần Học nghĩ rằng, các Diakone – Phó Tế – chỉ thi hành sứ mạng trong Phụng Vụ, trong việc quản lý tài sản và trong hoạt động Caritas, và chỉ được thi hành chức vụ sau khi đã trải qua một cuộc sát hạch về năng lực chuyên môn, và có lẽ cũng phải trải qua một cuộc bổ nhiệm chính thức vào chức vụ của mình. Việc các phụ nữ cũng có chức Phó Tế trên toàn Giáo hội thời nguyên thủy, đó là điều đã được chứng thực bởi Rm 16,1-2: “Tôi xin giới thiệu với anh chị em chị Phê-bê, người chị em của chúng tôi, là Nữ Trợ Tá của Hội Thánh Ken-khơ-rê. Mong anh chị em tiếp đón chị ấy trong Chúa cách xứng đáng, như các Thánh phải đối xử với nhau. Nếu chị ấy có việc gì cần đến anh chị em thì xin anh chị em hãy giúp đỡ, vì chính chị ấy cũng đã bảo trợ cho nhiều người, kể cả tôi nữa.” Dịch sang tiếng Hy-ạp, từ “Nữ Trợ Tá” có nghĩa là “Diakonin – Nữ Phó Tế”. Trong bối cảnh rộng hơn, vấn đề đã trở nên rõ ràng rằng, bà Phê-bê chắc chắn cũng đã hoạt động truyền giáo; ngoài ra, những mô tả về công việc đầu tiên của một Nam Phó Tế hay của một Nữ Phó Tế thì hoàn toàn mù mờ.
Người trợ giúp trong Phụng Vụ, trong việc quản lý tải sản và trong hoạt động Caritas:
Tại Giáo hội Rô-ma thuộc thế kỷ thứ nhất, chúng ta bắt gặp các Phó Tế như là những người trợ giúp các Giám Mục, trong việc chăm sóc những người nghèo và các bệnh nhân. Từ thế kỷ thứ V, chức vụ này trong Giáo hội Rô-ma đã đánh mất đi tầm quan trọng; nó trở thành một cấp chuyển tiếp cho chức Linh mục. Chỉ tới Công Đồng Vatican II, Giáo hội mới tái khôi phục chức Phó Tế như là chức vụ thuộc “trật tự” Bí Tích, được thi hành một cách cố định. Nhưng khác với Linh mục và Giám mục, các Phó Tế không có chức năng được dành riêng cho họ.
Ngay cả giới phụ nữ trong Giáo hội sơ khai cũng đã từng hoạt động với tư cách là các Nữ Phó Tế trong những sứ vụ đặc biệt của cộng đoàn, chẳng hạn như trong việc huấn dậy Đức Tin, chăm sóc người nghèo và trong việc cộng tác với các phụ nữ. Tuy nhiên, theo quan điểm của nhiều nhà Giáo Sử, các Nữ Phó Tế này không có chức năng nơi Bàn Thờ; nhiều nhà Giáo Sử tin rằng, tình trạng của các Nữ Phó Tế hầu như không thể so sánh với chức vụ của các Nam Phó Tế. Vì thế, cuốn “Từ Điển Thần Học và Giáo hội” đã đi đến kết luận rằng, “nếu cố gắng để thiết lập chức Nữ Phó Tế cho thời đại hôm nay, thì một sự thực hành mới sẽ bị viện cớ, mà sự thực hành ấy không thể dựa trên truyền thống đồng nhất và liên tục”.
Tại Giáo hội Tây phương La-tinh, các Nữ Phó Tế được xác nhận từ thế kỷ thứ VI tới thế kỷ XIII. Tại Giáo hội Phương Đông, truyền thống về các Nữ Phó Tế tồn tại lâu hơn; tuy nhiên, ở đây cũng có rất nhiều sự khác biệt giữa các Nam Phó Tế và Nữ Phó Tế.
Một cái nhìn tổng quát về các bộ sử học đủ để nhận thức được rằng, chức Phó Tế có một lịch sử khá phức tạp. Cho tới nay, người ta vẫn chưa có đủ các dữ liệu để khẳng định một cách chắc nịch về việc Phó Tế là gì và được phép làm gì. Các cuộc thảo luận lại làm ầm lên rằng: “Phải khẩn trương đưa ra một quyết định có tính huấn quyền trong mối liên hệ đến cấu hình căn bản mang tính Bí Tích của chức Phó Tế” – cuốn từ điển vừa được trích dẫn ở trên cảnh báo.
Giờ đây, sự suy tư về một chức Phó Tế dành cho nữ giới rơi vào trong tình trạng manh mún này. Các Nghị Phụ của Công Đồng Vatican II đã khước từ một sự bứt phá tương ứng, vì các Ngài lo ngại rằng, điều đó có thể có nghĩa là một sự quyết định trước về những chức vụ khác trong Giáo hội đối với nữ giới. Trong giới Đức ngữ, từ hơn một chục năm nay, người ta đã thảo luận một cách khá sôi nổi về một sự mở ra có thể của chức Phó Tế đối với nữ giới; trong cuộc thảo luận này, vấn đề càng ngày càng trở nên rõ ràng hơn rằng, sẽ phải có một điều kiện tiên quyết cho sự mở ra này để tháo gỡ sự hiệp nhất giữa ba chức vụ của Giáo hội (Phó Tế – Linh Mục – Giám mục) đã có từ thời Trung Cổ.
Ngay cả Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, mà Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin được liệt vào, cũng đã hết sức bận tâm tới đề tài Phó Tế trong một cuộc hội nghị tại Vatican vào năm 2002.
Theo rv/lthk/kna 13.05.2016 sk
Lm. Đa-minh Thiệu – chuyển ngữ

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget