Articles by "Phúc Âm Hóa Gia Đình"

Trường học gia đình, truong hoc gia dinh
Khi nhập thể và nhập thế, Con Thiên Chúa là Đức Kitô Giêsu đã sinh trong một gia đình. Khi đi lễ đền, Ngài ở lại “lo việc của Chúa Cha” nhưng cha mẹ Ngài không biết, sau ba ngày, Ngài ngoan ngoãn theo cha mẹ về quê và hằng vâng phục cha mẹ (Lc 2:51). Điều đó chứng tỏ gia đình là quan trọng và là trường học đầu tiên của mọi người.
Văn sĩ Charles Dickens (1) nhận định: “Gia đình là một cái tên, một từ ngữ mạnh mẽ, mạnh hơn lời của những pháp sư hay tiếng đáp của các linh hồn. Đó là lời nguyện cầu hùng mạnh nhất”.
Các nhà xã hội học coi gia đình là nơi đặt những “viên gạch đầu tiên” trong việc hình thành nhân cách con người. Điều đó cho thấy gia đình là trường học đầu tiên của mỗi con người. Quả thật, giáo dục gia đình rất quan trọng, đặc biệt là người mẹ, vì người mẹ gần gũi con cái ngay từ khi nó mới sinh ra và suốt những tháng năm đầu đời.
Nhân cách là tính cách của một con người, và rồi con người đó có thể tốt hoặc xấu. Vì thế, giáo dục nhân cách rất quan trọng, phải bắt đầu từ gia đình, nhưng giáo dục gia đình lại là vấn đề rộng lớn. Ở đây chúng ta nói về vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ em ở Việt Nam hiện nay.
Như đã nói, gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên, tức là trường học đầu tiên của bất kỳ con người nào. Mỗi con người đều được sinh ra từ cha và mẹ. Đứa trẻ luôn gần gũi và lắng nghe những “âm thanh cuộc sống” đầu tiên từ cha mẹ – đặc biệt là từ người mẹ. Người mẹ hiền lành, dịu dàng, ăn nói nhẹ nhàng, đứa trẻ đều nhận biết và chịu ảnh hưởng. Ngày xưa, người mẹ ru con bằng những câu hò, ca dao, điệu lý,… nhẹ nhàng và trong sáng. Rất tiếc là ngày nay không phổ biến, nhưng vẫn còn phần nào những lời “ầu ơ”, “ví dầu”,… khi mẹ ru con ngủ. Lời ru không thể nào gắt gỏng hoặc như “dùi đục chấm mắm cáy”, vì thế mà đứa trẻ vẫn ảnh hưởng sự dịu dàng của lời mẹ ru.
Khi con trẻ chập chững những bước đi đầu đời, người đầu tiên chỉ dạy cho bé cách đi đứng, nói năng, không ai khác là cha mẹ. Vì vậy, cha mẹ là người thầy đầu tiên của con cái. Điều đó xác định việc giáo dục gia đình vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con cái. Dĩ nhiên, vì lý do nào đó, có những đứa trẻ thiếu sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ nhưng nó vẫn có thể hình thành nhân cách tốt, đó là nhờ quá trình tự giáo dục tốt. Nhưng hầu như sự giáo dục gia đình không tốt thì nhân cách đứa trẻ ắt có phần khiếm khuyết, đôi khi hoàn toàn xấu. Do đó, giáo dục gia đình rất quan trọng đối với mỗi con người, vì còn trẻ người non dạ, không ai có thể hiểu biết về mình, về xã hội, về cuộc sống,… nhưng được gia đình định hướng và dạy dỗ, nhờ đó mà tích lũy kinh nghiệm và trưởng thành dần theo thời gian.
Ngoài ra, gia đình còn là hành trang “ắt có và đủ” đối với  mỗi con người. Trong thời gian đầu đời, ai cũng được sống với ông bà, cha mẹ, anh chị em. Lớn lên, những người lập gia đình rồi có con, cháu. Trong gia đình, mọi người đùm bọc nhau về vật chất, tinh thần, tâm linh,… Người trẻ có điều kiện để lớn khôn, người già có nơi nương tựa, người u buồn được an ủi, người yếu đau được nâng đỡ,… Như vậy, gia đình là một cộng đồng luôn gắn bó với nhau trên từng bước đường của cuộc sống. Dù là ai, được sống trong tình yêu thương của gia đình là hạnh phúc. Ai không được như vậy thì thật là nỗi bất hạnh. Trong quá trình sống với gia đình, cùng trao và nhận tình yêu thương, mỗi người lại tiếp tục tự hoàn thiện mình và tự hoàn thiện nhân cách.
Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình luôn có mối quan hệ mật thiết với xã hội, đơn giản nhất là quan hệ với làng xóm, khu phố. Như tục ngữ có câu: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”. Động từ “bán” và “mua” ở đây không mang nghĩa “thương mại”, nhưng có ý nói rằng láng giềng gần gũi và cần thiết lắm. Họ là những người “tối lửa tắt đèn có nhau”, mình có chuyện gì thì thân nhân ở xa đâu biết được, chỉ có láng giềng biết. Nói theo Công giáo, đó là những người lân cận, những người mà Đức Giêsu đề cao qua dụ ngôn “Người Samari Nhân Hậu” (Lc 10:29-37).
Gia đình cũng là nơi tái tạo con người. Thành viên nào lỗi lầm vẫn được gia đình an ủi, khuyên nhủ, che chở, bảo vệ, nâng đỡ,… Nhờ đó mà người lầm lỗi có thể đứng dậy và làm lại cuộc đời. Mỗi thành viên gia đình là một người tốt thì xã hội sẽ tốt, đất nước có những công dân tốt, Giáo hội cũng có những “chiên ngoan”. Xã hội có nhiều công dân tốt, ắt hẳn đất nước có thể vững mạnh, xã hội có thể văn minh, cộng đồng ít tệ nạn. Có ít cái xấu sẽ có nhiều cái tốt, con người quan tâm đối xử với nhau bằng tình thân ái và lòng nhân hậu. Nói vậy có nghĩa là cả xã hội phải thực sự chú tâm tới sự nghiệp giáo dục, không thể lơ là hoặc “đánh trống bỏ dùi”. Vì chú trọng số lượng hơn chất lượng, chạy theo thành tích, không lo “tiên học lễ, hậu học văn” nên đạo đức mới bị sa sút trầm trọng, đi đâu cũng thấy tội phạm! Học sinh cần phải được giáo dục về giao tiếp và ứng xử ngay trong cộng đồng, hội đoàn, đặc biệt phải bắt đầu từ gia đình.
Xã hội càng ngày càng văn minh và tiến bộ, đó là niềm vui. Nhưng cứ đua đòi hoặc chạy đua theo lối sống xa hoa thì dễ sa đọa, đi đâu cũng thấy treo bảng “văn hóa” nhưng lối sống chẳng thấy gì là văn hóa. Trị bệnh phải trị tận căn, nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Nhiều hiện tượng xã hội mới liên quan vấn đề trẻ em đặt ra những thách thức mới trong việc giáo dục gia đình: Trẻ em lang thang, trẻ em phạm pháp, trẻ em bị lạm dụng tình dục, trẻ em bị bóc lột sức lao động, trẻ em quan hệ tình dục sớm, ấu dâm, mại dâm trẻ em, lạm dụng ma tuý, lạm dụng chất có men,… Điều đó đòi hỏi việc quản lý và kiểm soát chặt chẽ của các nhà hữu trách, nhưng vấn đề chính vẫn là phải giáo dục trước tiên từ gia đình. Một việc không dễ, vì vừa đòi hỏi gia đình phải phát huy hết các sức mạnh, vừa đòi hỏi các thành viên trong gia đình phải chung tay góp sức và phải là những tấm gương sáng lẫn nhau – đặc biệt là đối với trẻ em. Cây phải được uốn từ lúc cây còn nhỏ, con người cũng vậy, phải được uốn nắn từ nhỏ và ngay tại gia đình, sau đó mới tới nhà trường và xã hội.
Đã có nhiều trường hợp con cái hư, rồi lấy cớ là bận rộn, lo làm ăn. Không thể viện cớ như vậy! Các cha mẹ khá giả chiều chuộng con cái quá mức, để chúng tự do, muốn gì được nấy, tiêu xài xả láng, cứ tưởng như vậy là yêu con, sai lầm nghiêm trọng. Tục ngữ Việt Nam rất chí lý: “Thương con cho roi cho vọt, ghét con cho ngọt cho bùi”. Về tâm linh, Thánh Phaolô cũng nói: “Chúa thương ai thì mới sửa dạy kẻ ấy, và có nhận ai làm con thì Người mới cho roi cho vọt” (Dt 12:6).
Gia đình nào thường xuyên cãi cọ, mâu thuẫn, xung đột, bạo lực,… nhất là các gia đình có cha mẹ ly hôn hoặc ly thân, con cái bị ảnh hưởng rất nặng về cả tâm lý lẫn sinh lý. Trẻ em không được chăm sóc, nhất là khi bị tổn thương về tình cảm hoặc tinh thần, nhiều trẻ em đã bỏ nhà đi bụi đời, sống lang thang, bất cần đời, rồi dễ sa vào tội lỗi và tệ nạn xã hội. Nguyên nhân là chúng mất cái gốc quan trọng là gia đình, không được dưỡng dục thể chất và tinh thần để có thể nên người. Trước thực trạng đó, việc giáo dục trẻ em ở gia đình càng trở nên cấp bách hơn.
Quả thật, chuẩn mực đạo đức và trình độ nhận thức của một con người phải được hình thành từ nhỏ, bắt đầu từ môi trường gia đình. Việc giáo dục đạo đức dần dần đưa chúng vào nền nếp gia phong từ những gì nhỏ nhất trong cuộc sống hằng ngày như thật thà, vị tha, không vị kỷ, biết giữ lời hứa, lễ phép, nhân hậu, hiền dịu, hiếu thảo, nhường nhịn,… Nói chung là biết quên mình mà sống vì người khác. Đơn giản nhất là các động thái nhỏ về ứng xử, lời ăn, tiếng nói: Chào hỏi, xin phép, xin lỗi, cảm ơn,… Đó là phép lịch sự tối thiểu trong phép xã giao. Tục ngữ Việt Nam đã cảnh báo: “Lỗ nhỏ làm đắm thuyền”. Đừng khinh suất những điều nhỏ!
Sống tốt không chỉ là tránh điều xấu mà còn phải tích cực làm điều thiện. Sống thật thà không chỉ là không ăn gian, không nói dối, mà còn phải tôn trọng những gì là của người khác: Thấy tiền hoặc vật dụng của người khác mà không nổi máu tham thì mới là thật thà, chứ không thấy thì có gì mà tham, mà lấy? Về tâm linh cũng vậy, có dịp phạm tội mà không phạm thì mới là thánh thiện, chứ không có dịp phạm tội thì chưa biết ai hơn ai.
Gia đình là vườn ươm mầm đời sống và là nơi tôi luyện các nhân đức của con người. Cha mẹ không nên khắt khe, nhưng phải cương nghị, thấy con cái sai thì phải nghiêm túc chấn chỉnh ngay, không được làm ngơ! Cha mẹ nên hiền từ, nhưng đừng nhu nhược. Cha mẹ nhu nhược cũng “tiếp tay” cho con cái hư hỏng. Văn sĩ Robert Anson Heinlein (2) khuyên: “Đừng gây bất lợi cho con cái bạn bằng việc cho chúng cuộc sống dễ dàng”.
Cha mẹ phải là người đầu tiên điều chỉnh con cái, để chúng không chỉ chấp nhận mà còn tích cực cố gắng sửa đổi ngay. Cha mẹ cũng không được hành động cho thỏa cơn giận, nhưng phải kiên nhẫn, tìm hiểu, để biết rõ nguyên nhân, để ngày càng thích ứng và sống chan hòa với con cái.
Hiện nay, không ít cha mẹ lo nuôi con về thể lý mà coi thường việc giáo dục tinh thần, lo đầu tư cho việc dạy chữ mà quên việc dạy người. Có những cha mẹ không chú ý vai trò làm “người thầy đầu tiên” của con cái, phó mặc mọi việc giáo dục con cho nhà trường. Đó là sai lầm lớn cần chấn chỉnh càng sớm càng tốt!
Giáo dục đa dạng, đơn giản là hai phần chính: Giáo dục thể lý và giáo dục tinh thần. Nhưng có một phần quan trọng không được bỏ quên, đó là việc giáo dục tâm linh. Mến Chúa thì phải yêu người. Thánh Gioan giải thích: “Ai nói rằng mình biết Người mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối, và sự thật không ở nơi người ấy. Ai nói rằng mình ở trong ánh sáng mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong bóng tối” (1 Ga 2:4 và 9).
Chính Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi” (Mt 12:50; Mc 3:35; Lc 8:21). Chỉ có những người như vậy mới thực sự là thành viên trong Đại Gia Đình Kitô Giáo, Đại Gia Đình của Thiên Chúa.
TRẦM THIÊN THU
——————-
(1) Charles John Huffam Dickens (1812–1870) có bút danh là Boz. Ông là tiểu thuyết gia người Anh nổi tiếng nhất thời đại Nữ hoàng Victoria. Ông được coi là một trong những văn sĩ vĩ đại viết bằng Anh ngữ, được ca ngợi về khả năng kể chuyện và trí nhớ, được nhiều người ở khắp nơi yêu mến. Các tác phẩm của ông chủ yếu dành cho thiếu nhi và mang tính chất hiện thực.
(2) Robert Anson Heinlein (1907–1988) là nhà văn khoa học viễn tưởng Mỹ. Ông được coi là văn sĩ gạo cội trong lĩnh vực khoa học viễn tưởng, là một trong những tác giả nổi tiếng nhất có ảnh hưởng nhất và cũng gây nhiều tranh cãi nhất về thể loại này. Ông đã lập ra một chuẩn mực cao đối với sự hợp lý về khoa học kỹ thuật trong văn học và góp phần thúc đẩy chất lượng chung của thể loại khoa học viễn tưởng. Ông là văn sĩ khoa học viễn tưởng đầu tiên thu hút được sự chú ý của công chúng, đặc biệt trên những tạp chí chính thống như tờ “The Saturday Evening Post” vào cuối thập niên 1940. Ông cũng là một trong những tiểu thuyết gia thành công đầu tiên về thể loại khoa học viễn tưởng thời hiện đại.

Gia đình là nền tảng của vũ trụ, gia dinh la nen tang cua vu tru
Án Tử, người nước Tề, nổi tiếng là một người thanh liêm và thủy chung. Xuất thân từ một gia đình nghèo, Án Tử được vợ hy sinh buôn tảo bán tần để nuôi ăn học. Ðỗ đạt làm quan, Án Tử không bao giờ quên ơn ấy của vợ. Cuộc sống đầy cạm bẫy, ông vẫn một mực trung thành với vợ.
Một hôm vua Cảnh Công đến thăm ở lại dùng bữa với Án Tử. Một người đàn bà đã già xuất hiện trong bữa tiệc. Khi Án Tử vừa giới thiệu người đàn bà đó là vợ mình, nhà vua ngạc nhiên đến sửng sốt. Ông đề nghị với Án Tử: “Ôi vợ khanh trông vừa già lại vừa xấu. Quả nhân có một đứa con gái vừa trẻ vừa đẹp, quả nhân muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao?”
Án Tử liền trả lời một cách dứt khoát, không chút do dự: “Nội tử của tôi nay thật già và xấu. Nhưng chúng tôi đã lấy nhau và ăn ở với nhau bao lâu nay, kể từ khi nàng còn trẻ đẹp. Xưa nay, đàn bà lấy chồng lúc còn trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lấy chồng lúc đẹp để nhờ cậy khi xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi cũng như tôi đã từng nhận sự giúp đỡ của nội tử tôi. Nay, bệ hạ muốn ban ơn mưa móc là tùy ở bệ hạ, nhưng xin đừng để tôi phải mang tiếng là ăn ở bội bạc với nội tử của tôi”.
Nói xong Án Tử lạy hai lạy, xin từ chối không lấy con gái của nhà vua.
Gia đình là nền tảng của xã hội. Con người chỉ có thể sinh ra và lớn lên trong một gia đình. Trong cái nhìn Kitô, thì gia đình là một Giáo Hội nhỏ trong đó đức tin được thông ban và trưởng thành.
Nền tảng để gia đình được đứng vững đó là Tình Yêu. Nhưng Tình Yêu không là một cái có sẵn, mà là một giá trị luôn đòi hỏi sự xây dựng và vun xới của con người… Một gia đình hạnh phúc hay không, tất cả đều tùy thuộc ở sự phấn đấu xây dựng từng ngày của con người.
Hai cử chỉ dường như được gắn liền với nhau trong chuyến viếng thăm quê hương dạo tháng 5/1987 của Ðức Gioan Phaolô II, đó là: viếng mộ song thân và cử hành Thánh Lễ đặc biệt cho các đôi vợ chồng.
Cây tốt thường sinh trái tốt: con người của Ðức Gioan Phaolô II là hoa trái Tình Yêu của cha mẹ ngài. Viếng mộ của song thân, Ðức Thánh Cha không những nói lên niềm tri ân của ngài đối với bậc sinh thành, nhưng ngài còn muốn đề cao giá trị của đời sống hôn nhân.
Giữa đời thời đại mà đời sống hôn nhân và gia đình bị lay động đến tận gốc rễ, Ðức Thánh Cha muốn gióng lên một tiếng kêu vô cùng thảm thiết: hãy trung thành với nhau.
Trong Thánh Lễ cầu nguyện cho gia đình, qua đó các đôi vợ chồng hiện diện được mời gọi lập lại lời thề hứa trong hôn phối, Ðức Thánh Cha đã lập lại ý nghĩa và giá trị của Bí Tích Hôn Phối. Ngài nói như sau: “Khi quỳ gối trước bàn thờ trong ngày cưới, các đôi vợ chồng đã thề hứa với nhau cho đến cùng. Họ thề hứa với nhau như thế trước mặt Thiên Chúa. Lời cam kết này phản ánh chính lời hứa của Chúa Giêsu rằng Ngài yêu họ và yêu cho đến cùng”.
“Tôi hứa sẽ giữ trung thủy với em khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời tôi”.
Khi tuyên hứa với nhau như thế, hai người đã lập lại chính cam kết của Chúa Giêsu, Ðấng đã yêu thương và yêu thương cho đến cùng.
Yêu cho đến cùng nghĩa là chấp nhận cái chết từng ngày. Tình yêu hôn nhân là một hạt giống: có được chôn vùi, có mục nát đi mới sinh hoa kết trái. Luật của đời sống hôn nhân chính là luật của hy sinh, của chiến đấu, của chính sự chết. Nhưng cũng chính khi con người biết chối bỏ chính mình bằng hy sinh, con người sẽ gặp lại chính mình trong người khác… Ðó là lẽ sống mà Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta.
Lm. Nguyễn Tầm Thường

Lời thề hôn nhân, loi the hon nhan
Hôn luật và nghiêm luật của Thiên Chúa đã được chính Đức Giêsu Kitô xác định: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:4-6).
Nghiên cứu mới đây của công ty an ninh máy vi tính Norton công bố rằng càng ngày càng có nhiều cặp vợ chồng chia sẻ password của email và của các trang mạng xã hội – với 20% trong số các đôi vợ chồng tham gia đều nhận rằng họ đã từng vào tài khoản email của vợ/chồng và các trang mạng xã hội mà không cho biết, trong số đó có 15% nói rằng nhờ vậy mà vợ chồng giải hòa.
Sự riêng tư và sự độc lập được coi là “linh thiêng”, vậy bạn đã thực sự chia sẻ với người bạn đời về lĩnh vực này tới mức độ nào? Ngày nay, chữ “tôi” không còn được đưa vào chữ “chúng ta”. Các mã số của mối quan hệ đã thay đổi và khái niệm về một đôi vợ chồng liên hiệp cũng không còn là lý tưởng. Trước đây, đi ăn ngoài với bạn bè hoặc “tám” chuyện qua điện thoại với “cố nhân” là điều không tưởng, nhưng ngày nay đã hoàn toàn khác, tất nhiên ở “mức độ cho phép” chứ không thể lạm dụng.
Nói hay im lặng? Các mối quan hệ nên đặt nền tảng trên sự trong sáng, sự chân thật và sự cần thiết. Theo nghiên cứu, nếu có những chi tiết thân mật liên quan mối quan hệ trong quá khứ, như sự thân mật thể lý hoặc yêu đương sâu sắc (do lỡ lầm) – điều này nên nói với người bạn đời. Chia sẻ thông tin về những điều đó có thể gây cản trở cho mối quan hệ hiện tại hoặc nếu bạn muốn xây dựng một tương lai an toàn, đó là điều phải làm để người bạn đời biết rõ chi tiết.
Điều đó giúp mối quan hệ của bạn tốt hơn và mạnh hơn – đừng sợ cho biết chi tiết sẽ bị người kia tiết lộ với người khác. Một số người nghĩ rằng bạn nên cho người bạn đời biết những bí mật của bạn, nhưng có những người lại cảm thấy chia sẻ mọi chi tiết thì phức tạp lắm. Thực ra “thà mất lòng trước” mà “được lòng sau”. Những người ác ý hoặc dã tâm thì có nói hay không họ vẫn có thể “hành hạ” người kia bằng nhiều cách.
Cứ cho người bạn đời đi vào mọi lãnh địa của cuộc đời bạn có thể là tai họa – nhất là khi mối quan hệ của bạn còn mới mẻ hoặc nếu bạn đang cố hàn gắn sau xung đột. Thường thì người bạn đời có thể lợi dụng điều đó và suy diễn đủ thứ về bạn. Xía vào chuyện của người khác cũng nguy hiểm. Thường thì các đôi vợ chồng phát hiện thông tin về người bạn đời bằng cách truy cập vào tài khoản của họ. Chị N., 23 tuổi, nói: “Dù nói anh ấy đừng làm vậy, nhưng anh ấy vẫn bí mật kiểm tra tin nhắn và thấy tôi vẫn liên lạc với người yêu cũ, điều đó gây rạn nứt tình cảm và nghi ngờ”.
Điều nên nói. Bạn chỉ nên nói những chi tiết bí mật về những gì bạn cảm thấy thoải mái. Như vậy không phải là gian dối, giấu giếm hoặc “chơi khăm”. Bởi vì đôi khi các bí mật “thâm cung bí sử” nhất có thể gây nguy cơ rạn nứt cho mối quan hệ hiện tại và tương lai của bạn. Cho biết những bí mật nhỏ thì được, nhưng nếu bạn chia sẻ các thông tin quá khứ thì có thể làm rạn nứt mối quan hệ thì cứ chôn kín trong lòng còn hơn.
Chia sẻ bí mật nhỏ. Cũng chẳng sao nếu chia sẻ các chi tiết như cách bạn đi uống cà-phê với đồng nghiệp nam hay nữ, nghĩa là bạn có thể về trễ, hoặc bạn đi dự sinh nhật người yêu cũ với tư cách bạn cũ. Đêm đó có thể làm bạn rất vui, nhưng không có gì phải lo sợ, cứ bình thường và tránh nói quá chi tiết về điều đó.
Vấn đề tiền bạc nhiêu khê lắm. Bạn vừa mua cho mình một bộ cánh ưng ý, nhưng hơi mắc tiền. Bạn có thể nói với người bạn đời về điều này để bạn có thể không cảm thấy có lỗi vì phải chi món tiền lớn, ảnh hưởng chi tiêu gia đình. Nên rạch ròi về vấn đề tiền bạc.
Nếu thấy có sự gian dối trong mối quan hệ, nên nói trực tiếp và thẳng thắn với nhau. Nếu chần chừ, rồi người kia phát hiện, chắc hẳn là điều bất tiện. Đừng quên câu: “Của chồng, công vợ”.
Đúng nơi, đúng lúc. Nếu bạn muốn chia sẻ với người bạn đời – chẳng hạn chuyện tình ngày xưa. Cái gì cũng cần nhiều thời gian, đừng vội vàng “trải lòng ra” với người bạn đời. Bạn nên chờ lúc thuận tiện để có thể nói chuyện nghiêm túc với người bạn đời. Nếu bạn lục đục với chồng vì có lúc anh ấy đã tiết lộ các bí mật về sự thất vọng nào đó. Cố gắng kiên trì chờ đợi đúng thời điểm để nói chuyện. Thật vậy, ca dao Việt Nam rất chí lý khi đưa ra nhận định về yêu thương phu thê:
Yêu nhau trăm sự chẳng nềMột trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng
Cách “kê” rất quan trọng. Vợ chồng là hai con người hoàn toàn khác nhau về mọi thứ, cái mà người ta gọi là “giống nhau” hoặc “hợp nhau” cũng chỉ mang tính tương đối. Không bao giờ có hai chiếc lá giống nhau, chắc chắn cũng chẳng bao giờ có hai con người giống nhau. Dù chỉ là giống về bề ngoài, hai người sinh đôi cũng vẫn có điểm khác để có thể nhận biết ai là anh (chị) và ai là em. Với người Công giáo, cách “kê” tuyệt vời nhất là tha thứ.
Một lần nọ, có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu để thử Người, và họ hỏi: “Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?”. Người đáp: “Các ông không đọc thấy điều này sao: Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ. Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:4-6). Họ hỏi vặn lại: “Thế sao ông Môsê lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?”. Người bảo họ: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu. Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 19:8-9).
Vợ chồng là “một xương, một thịt” chứ không còn là hai. Một mà hai, hai mà một. Vợ chồng còn được Thiên Chúa liên kết qua mối dây ràng buộc là Bí tích Hôn phối, và Ngài truyền nghiêm lệnh: “Không được phân ly”. Như vậy, đối với Kitô hữu, mức độ chia sẻ phải chân thật hơn những người không có niềm tin vào Đức Kitô, nếu không thì không bằng người ngoại giáo!
Hôn nhân là một ơn gọi. Vợ chồng được mời gọi diễn tả tình yêu phối ngẫu qua 3 chữ T: Thân mật, Thủy chung và Trinh khiết (khiết tịnh). Với 3 chữ T đó, cả vợ và chồng đều phải tự nhủ: “Tôi Trung Thành”. Đó không chỉ là lời hứa với nhau mà chính là hứa với Thiên Chúa.
Những người đã lập gia đình, hãy luôn biết “tương kính như tân”, và đừng quên rằng chính mình đã long trọng thề hứa với nhau trước mặt vị đại diện Giáo hội và toàn thể cộng đoàn Dân Chúa: “Anh/em nhận em/anh làm vợ/chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em/anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian lao, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em/anh mọi ngày suốt đời anh/em”.
Lời hứa đó không là hứa cho vui, hứa cho xong, hứa cho đủ nghi thức, nhưng là lời hứa có tính chất “thề” (thề “độc” chứ không thề thường đâu). Mà lời thề thì không ai “giải” được, vì đó là lời thề với Thiên Chúa!
TRẦM THIÊN THU

Vườn ươm ơn thiên triệu, vuon uom on thien trieu
Chính Đức Giêsu Kitô đã nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15). Nhưng Ngài xác định: “Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em” (Ga 15:16). Ngài nói về ơn thiên triệu. Và đó là hồng ân Chúa ban chứ không vì sự xứng đáng hoặc công trạng của người được gọi.
Ơn thiên triệu (ơn gọi) là hồng ân cao cả. Khi nói về ơn thiên triệu, người ta thường nghĩ về ơn gọi tu trì (làm linh mục hoặc tu sĩ). Đó chỉ là một khía cạnh của ơn thiên triệu.
Ai cũng được Thiên Chúa kêu gọi, mỗi người một dạng, để làm việc cho Chúa và cộng tác vào công cuộc cứu độ của Ngài. Nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta được trở thành Kitô hữu và được tham dự vào ba thiên chức của Đức Kitô: Vương giả, Tư tế, và Tiên tri (Ngôn sứ). Thánh Phêrô đã xác định: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa; xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương” (1 Pr 2:9-10).
Có lẽ dễ hiểu với thiên chức tư tế và tiên tri, nhưng khó hiểu với thiên chức vương giả. Lời Thánh Phêrô (1 Pr 2:9-10) giúp chúng ta hiểu về thiên chức vương giả. Qua đó, rõ ràng mỗi chúng ta đều là Hoàng tử hoặc Công chúa của Thiên Chúa, Chúa tể càn khôn, Vua trời đất. Đó là sự thật chứ không là mạo nhận hoặc ảo tưởng. Chính Thánh Gioan, người-môn-đệ-được-Chúa-yêu, cũng đã xác nhận: “Thiên Chúa yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa” (1 Ga 3:1). Quả thật, chúng ta đúng là con của Ngọc Hoàng, thực sự thuộc dòng dõi quý tộc hoặc Hoàng gia, chứ chẳng phải người bình thường đâu.
Cái gì cũng có nguồn gốc hoặc nguyên nhân. Chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài (St 1:26-27; St 9:6), nghĩa là chúng ta có nguồn gốc là sự thiện: “Nhân chi sơ tính bổn thiện”. Nhưng vì di truyền tội Nguyên Tổ, vương tội từ trong lòng mẹ (Tv 51:7), rồi người ta lại bị “nhiễm độc” vì thế gian xấu xa.
Cơ thể con người có tế bào gốc, xã hội và Giáo hội cũng vậy. Chính gia đình là “tế bào gốc” đó. Gia đình khởi đầu từ vợ chồng, là sự kết hợp của Âm và Dương. Do đó, có thể gọi gia đình là “vũ trụ” thu nhỏ, vì đất trời cũng là sự kết hợp hài hòa của Âm và Dương.
Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng. Những người chúng ta giao tiếp cũng có ảnh hưởng tới chúng ta. Cha mẹ tốt lành thì con cái có thể ảnh hưởng, nhất là ảnh hưởng từ người mẹ. Tại sao? Vì khi sinh ra, ai cũng gaio tiếp với người mẹ đầu tiên, sau đó là người cha, rồi ông bà, láng giềng,… Về tâm linh cũng vậy, cha mẹ đạo đức thì con cái cũng ảnh hưởng. Có thể gọi gia đình là “vườn ươm” hoặc “chiếc nôi” của ơn thiên triệu.
Gương sáng điển hình là Thánh nữ Monica (322 -387, Phi Châu), một người mẹ đau khổ vì người chồng bê bối và vì đứa con ngang ngược – Thánh Augustinô, Giám mục Tiến sĩ Giáo hội (354-430). Tuy nhiên, dù thất vọng nhưng Thánh Monica không tuyệt vọng, quyết không đầu hàng trước mọi nghịch cảnh. Bà vâng lời cha mẹ mà kết hôn với người ngoại giáo tên là Patrixiô, dân thành phố Tagaste (Bắc Phi). Ông Patrixiô rất nóng tính và phóng túng, bà Monica không chỉ phải chịu đựng chồng mà cả bà mẹ chồng cực kỳ khó tính. Ông Patrixiô “phê bình” vợ về lòng bác ái và đạo hạnh.
Augustinô là con cả trong 3 người con của Thánh Monica. Lúc người cha mất, Augustinô 17 tuổi, đang là sinh viên khoa hùng biện ở Carthage. Do ảnh hưởng người cha, Augustinô ăn chơi trác táng, theo tà thuyết Manichean (*) và sống vô luân. Thánh Monica rất đau buồn. Bà phạt Augustinô, không cho ở trong nhà. Một đêm kia, bà thấy thị kiến cho biết chắc chắn Augustinô sẽ trở lại. Từ đó bà luôn theo sát con, cầu nguyện và ăn chay để cầu nguyện cho con hoán cải.
Augustinô giỏi giang nhưng ngang bướng. Một đêm nọ, Augustinô nói với mẹ là sắp đi tạm biệt một người bạn. Nhưng không, Augustinô lại lên tàu đi Rôma. Thánh Monica rất đau khổ khi biết con lừa dối mình, nhưng bà vẫn đi theo. Bà vừa đến Rôma thì biết tin đứa con “trời đánh” Augustinô đã đi Milan. Dù việc đi lại khó khăn, Thánh Monica vẫn theo con tới Milan.
Tại Milan, Augustinô chịu ảnh hưởng một vị giám mục thánh thiện – tức là Thánh Ambrôsiô, cũng là linh hướng của bà Monica. Bà nghe lời khuyên của Thánh Ambrôsiô, khiêm nhường từ bỏ mọi sự và làm trưởng nhóm của các phụ nữ đạo đức ở Milan, kể cả khi bà ở Tagaste.
Thánh Monica không ngừng cầu nguyện cho Augustinô. Lễ Phục sinh năm 387, Thánh Ambrôsiô rửa tội cho Augustinô (33 tuổi) và vài người bạn của Augustinô. Ngay sau đó, nhóm của Augustinô đi Phi châu. Biết mình không còn sống bao lâu nữa, bà Monica nói với Augustinô: “Con ơi, không gì trên thế gian này làm mẹ vui. Mẹ không biết có gì còn lại cho mẹ làm hoặc tại sao mẹ lại vẫn ở đây, mọi hy vọng trên thế gian này mẹ đã được mãn nguyện”. Sau đó bà lâm bệnh nặng, 9 ngày sau bà qua đời.
Thánh Augustinô làm linh mục lúc 36 tuổi, và làm giám mục lúc 41 tuổi. Ngài là một tấm gương sáng về lòng sám hối, dứt khoát với quá khứ đen tối, từ một tội nhân trở thành một thánh nhân. Đó là nhờ nước mắt của người mẹ Thánh Monica, sự hướng dẫn của Thánh giám mục Ambrôsiô, và nhất là chính Thiên Chúa đã nói với thánh Augustinô qua Kinh thánh để soi dẫn Augustinô từ tình-yêu-cuộc-sống đến cuộc-sống-tình-yêu.
Trong những năm đầu đời, Thánh Augustinô đắm chìm trong kiêu ngạo và tội lỗi, nhưng đã trở lại và sống thánh thiện, chống lại mọi thủ đoạn của ma quỷ – suy đồi về chính trị, xã hội và luân lý. Chính kinh nghiệm bản thân mà ngài đã để lại cho chúng ta những câu nói bất hủ. Cũng như tiên tri Giêrêmia và các tiên tri khác, Thánh Augustinô cũng không thể im lặng một khi đã nhận biết Thiên Chúa: “Có lần con tự nhủ: ‘Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa’. Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt. Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được!” (Gr 20:9). Thánh Augustinô đã hối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng”.
Gương Thánh Monica cho thấy rõ hiệu quả của lời cầu nguyện, dù là cầu nguyện cho người khác. Thật vậy, lời cầu nguyện và gương lành của Monica đã khiến cả mẹ chồng và người chồng trở lại Công giáo. Ông Patrixiô mất năm 371, sau khi được rửa tội 1 năm.
Gia đình khởi nguồn và gợi hứng nhiều thứ, từ điều nhỏ tới điều lớn, thuộc nhiều lĩnh vực xã hội và tâm linh, trong đó có nguồn hứng là ơn thiên triệu – ơn gọi linh mục và tu sĩ.
Trong thời gian công khai sứ vụ, Đức Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Một hôm, khi thấy đám đông thì Ngài chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt. Ngài nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9:37-38).
Mỗi chúng ta cũng hãy vâng lời Chúa Giêsu và không ngừng cầu xin như vậy. Thiên Chúa và Giáo hội luôn cần những linh mục và tu sĩ biết quên mình, luôn “dấn thân phục vụ chứ không hưởng thụ” (Mt 20:28). Hãy tạo bầu khí đạo đức trong gia đình để làm “vườn ươm ơn thiên triệu”. Tiếp theo, hãy tạo cho giáo xứ là “chiếc nôi” của ơn thiên triệu.
Để tạm kết, xin được mượn lời của Ngôn sứ Isaia: “Đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: ‘Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị’ ” (Is 52:7).
Kha Đông Anh
Lễ Thánh Augustinô, 28-8-2014
_______________________
(*) Manichean là thuyết nhị nguyên, có nguồn gốc từ Persia (Ba Tư) hồi thế kỷ III, kết hợp với các yếu tố của Kitô giáo ngộ đạo (Gnostic Christianity), Phật giáo (Buddhism), và Bái hỏa giáo (Zoroastrianism).

Gia đình cần có năm căn nhà chính, gia dinh can co nam can nha chinh
Chúa nhật, ngày 04-10, các giám mục từ khắp nơi trên thế giới sẽ nhóm họp tại Roma để thảo luận về những thách thức mà các gia đình đang phải đối diện. Đây là chủ đề mà Đức Thánh Cha đã phân tích sơ lược khi Ngài từ Vatican tới Ecuador và Philadelphia. Ngài mô tả sức mạnh của gia đình trong năm căn nhà chính.
1. Nhà trường
Đức Thánh Cha nói:“Gia đình như là nhà trường mà nơi đó các giờ kinh nguyện nhắc nhớ rằng chúng ta là một thành viên của cộng đoàn. Nó nhắc chúng ta về người thân cận, những người đang hiện diện cách rõ ràng, họ là những người sống chung dưới một mái nhà với chúng ta. Một người thân cận cũng sống cuộc sống này và cần được giúp đỡ.” 
Thứ hai, Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự trợ giúp lớn lao mà các gia đình cần trao tặng cho những con người dễ thương vốn đang gặp đau khổ về thể lý hay tinh thần.
2. Nhà Thương
Đức Thánh Cha nói: “Gia đình là một nhà thương thân thiết nhất của mỗi người. Khi ai đó bị bệnh, họ có thể được chăm sóc trong gia đình.” Đó là một tình huống cũng xảy ra trong cuộc sống, khi một người cao tuổi, ông bà nội ngoại cần được chăm sóc.
3. Nhà an dưỡng
Đức Thánh Cha nói: “Nó là nơi an dưỡng tốt nhất cho người cao tuổi. Gia đình tạo nênnguồn lực xã hội to lớn mà các tổ chức khác không thể thay thế được. Gia đình phải được giúp đỡ và tăng cường.” Xa hơn nghĩa ẩn dụ của các nhà trường, nhà thương và nhà an dưỡng, ĐứcThánh Cha tin rằng gia đình là một trong những hạt nhân lý tưởng để nuôi dưỡng đức tin Kitô giáo.
4. Nhà thờ tại gia
 Đức Thánh Cha nói: “Gia đình cũng là Giáo hội thu nhỏ. Một cái gọi là “nhà thờtại gia”. Qua cuộc sống, nó chuyển tải lòng dịu hiền và thương xót của Thiên Chúa. Trong gia đình, đức tin được pha trộn với bầu sữa mẹ. Khi cảm nhận được tình yêu của cha mẹ, người ta cũng cảm thấy gần gũi hơn với tình yêu của Thiên Chúa.” Sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, Đức Thánh Cha cũng mô tả sức mạnh của gia đình như một nhà máy không bao giờ ngừng hoạt động.
5. Nhà máy
 Đức Thánh Cha nói: “Đó là lý do để các gia đình, xin lượng thứ cho lối diễn tả của tôi, là những nhà máy của niềm hy vọng. Các nhà xưởng của niềm hy vọng,sự sống và sự phục sinh. Chính Thiên Chúa đã mở ra hành trình này.”
 Chuyển ngữ: Phạm Đình Ngọc, S.J.

Bí tích và Gia đình, bi tich va gia dinh
Năm 2014 là Năm Gia Đình, năm Thánh Hóa Gia Đình, năm Phúc Âm Hóa Gia Đình. Tế bào gia đình tuy nhỏ nhưng quan trọng, vì gia đình là nền tảng xã hội, là Giáo hội thu nhỏ. Có thể nói rằng mọi sự giáo dục đều được khởi sự từ gia đình. Dù là ai thì cũng phải bước ra từ một gia đình, dù gia đình đó giàu hay nghèo, nhà đó to hay nhỏ.
Một trong các phương thức thánh hóa đời sống gia đình là sống đời sống bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, đồng thời chúng ta cũng tự kiểm điểm đời sống hôn nhân của mình.
Các bí tích (gọi tắt là “phép”) trong đạo Công giáo là các “bảng hướng dẫn” cho Đức Tin của chúng ta. Các bí tích là bản đồ chỉ đường để chúng ta sống Đức Tin suốt đời, khởi đầu từ Bí tích Thánh tẩy. Nhưng mục đích của các bí tích là gì? Có phải là các nghi thức, hoặc các phương thức để chúng ta lãnh nhận ơn Chúa? Đối với nhiều người Công giáo, đó là các vấn đề không dễ.
Muốn hiểu các bí tích, chúng ta phải đi từ đầu. Giáo hội Công giáo có 7 bí tích:
1. Thánh Tẩy (Rửa Tội).
2. Thêm Sức.
3. Thánh Thể (Mình Thánh Chúa).
4. Hòa Giải (Thống Hối, Cáo Giải).
5. Xức Dầu Thánh (Bệnh Nhân).
6. Truyền Chức Thánh.
7. Hôn Phối.
Giáo hội phân chia các bí tích thành ba nhóm:
1. Các bí tích khai tâm: Thánh Tẩy, Thêm Sức, và Thánh Thể.
2. Các bí tích chữa lành: Hòa Giải và Xức Dầu Bệnh Nhân.
3. Các bí tích phục vụ cho sự hiệp thông: Truyền Chức Thánh và Hôn Phối.
Tuy là 7 bí tích nhưng vẫn quy về một mối, như Thánh tiến sĩ Tôma Aquinô nói: “Tất cả các Bí tích đều hướng về Bí tích Thánh Thể như mục đích đặc thù của mình”.
Đa số chúng ta, với cuộc sống bình thường, đều lãnh nhận 6 bí tích. Một số ít có thể lãnh nhận chỉ 5 bí tích – các tu sĩ và người không đi tu cũng không lập gia đình, hoặc lãnh nhận cả 7 bí tích – linh mục hồi tục và kết hôn, hoặc đã có gia đình rồi đi tu và làm linh mục (hiếm).
Ân sủng trong đời sống
Một số người cảm thấy bí tích chỉ là nghi thức. Một số người cảm thấy bí tích là phương thức đạt được ơn cứu độ. Thật ra bí tích bí tích có mục đích và ý nghĩa sâu xa hơn. Bí tích không chỉ là phương thức để chúng ta được lãnh nhận ơn Chúa, mà bí tích là cách Đức Kitô chia sẻ ơn phúc cho chúng ta. Không có cách nào khác để chúng ta đạt được ơn Chúa mà Ngài muốn chia sẻ với chúng ta. Ngoài dấu chỉ bề ngoài, Đức Kitô chia sẻ các bí tích với chúng ta để bày tỏ tình yêu vô biên của Ngài. Bí tích là cách để chúng ta kết hiệp với Ngài và phát triển mối quan hệ sâu xa với Ngài qua Đức Tin. Bí tích làm cho chúng ta có sự kết hiệp thực sự với Đức Kitô. Quả thật, bí tích là tặng phẩm vô giá của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
Bí tích là dấu chỉ công việc của Đức Kitô trong đời sống chúng ta, được Giáo hội thực hiện, và kết quả là đời sống chúng ta được thông phần với Đức Kitô. Thật kỳ diệu biết bao! Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài muốn chúng ta cũng yêu mến Ngài. Ngài ban các bí tích cho chúng ta để chúng ta đến gần với Ngài hơn. Qu các bí tích, chúng ta có cách cụ thể để kết hợp với Đấng Cứu Độ.
Cả đời sống Kitô hữu phải được thấm nhuần và được ghi dấu bởi các bí tích và phụng vụ. Cuộc sống hằng ngày của người Công giáo phải là đời sống của phụng vụ. Việc lãnh nhận các bí tích giúp chúng ta sống đời sống phụng vụ, nhưng không chỉ có nghĩa là tham dự Thánh lễ Chúa nhật và xưng tội mỗi năm một lần theo luật Giáo hội buộc. Hằng ngày chúng ta phải sống trong ân sủng và bí tích. Hằng ngày đều có các ân sủng qua các bí tích, chúng ta phải không ngừng đáp lại. Nhưng bằng cách nào?
Đời sống Kitô giáo
Trước tiên, chúng ta phải nhận thức điều này: “Thánh Thể là nguồn và là đỉnh cao của đời sống Kitô giáo” (GLCG, 1324). Đó là nguồn mà chúng ta có sức mạnh để hằng ngày sống đời sống bí tích, và đó là đỉnh cao mà chúng ta vươn tới trong cương vị Kitô hữu, nghĩa là càng ngày càng kết hiệp mật thiết với Đức Kitô hơn. Ân sủng của bí tích luôn luôn có sẵn. Tất cả chúng ta đều được mời gọi nên thánh: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Ai có thể nên thánh? Tất cả những ai hằng ngày đáp lại các ân sủng mà họ nhận được để có Chúa sống trong họ, như Thánh Phaolô xác nhận:“Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2:20).
Sống đời sống bí tích cũng có nghĩa là sống cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện không ngừng, kết hiệp với Chúa mọi nơi và mọi lúc, cả linh hồn và thể xác. Tích cực tham dự Thánh lễ là điều cần thiết, thế nhưng một số người thường tới nhà thờ khi đã hết phần phục vụ Lời Chúa. Nên chấn chỉnh ngay! Chúng ta phải tự biết mình ở đâu, làm gì và Thánh lễ đang diễn tiến tới đâu. 
Thánh lễ tái diễn cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, là suối nguồn ân sủng làm cho đời sống Kitô hữu dồi dào, là ân sủng của của các ân sủng. Hãy cố gắng tham dự Thánh lễ hằng ngày.
Kinh Phụng Vụ
Một cách khác để tiếp tục sống đời sống bí tích là cầu nguyện bằng Kinh Phụng Vụ (Nhật Tụng hoặc Thần Vụ). Ngày nay, Kinh Phụng Vụ không chỉ dành cho giáo sĩ và tu sĩ. Công đồng Vatican II mời gọi mọi người cầu nguyện bằng Kinh Phụng Vụ, lời kinh nguyện của Giáo hội. Kinh nguyện này nối kết chúng ta với Thánh lễ và có thể giúp chúng ta lãnh nhận thêm ân sủng và đáp lại ân sủng.
Kinh Phụng Vụ giúp chúng ta thấm nhuần Phụng Vụ và nối kết với Thánh lễ. Đời sống cầu nguyện của chúng ta nên phản ánh sự hiểu biết Phụng Vụ và tích cực tham dự Phụng Vụ. Các ngày lễ nhớ, lễ kính và lễ trọng, chúng ta nên cầu xin (các) vị thánh đó nguyện giúp cầu thay cho chúng ta biết đáp lại tiếng Chúa một cách hiệu quả nhất, qua các bí tích. Tất nhiên, chúng ta phải đặc biệt cầu xin Thiên Chúa xót thương, cầu xin Đức Thánh Trinh Nữ Maria và Đức Thánh Giuse nguyện giúp cầu thay. Chúng ta cần cố gắng noi gương các thánh là biết đáp lại ân sủng mà Chúa thương ban.
Các Bí Tích
Một cách khác để tiếp tục sống đời sống bí tích là lãnh nhận chính các bí tích. Giáo hội trao cho chúng ta nước phép để nhắc nhở chúng ta về Bí tích Thánh Tẩy, nến phép để nhắc nhở chúng ta rằng Đức Kitô là Ánh Sáng thế gian, và nhiều những thứ khác, mỗi thứ nhắc nhở chúng ta về những điều khác nhau: Ảnh tượng, Chuỗi Mân Côi, Chuỗi Lòng Thương Xót, huy hiệu,…
Sùng kính các bí tích là dấu chỉ chúng ta thành kính tôn thờ Thiên Chúa, đồng thời là dấu chỉ ước muốn lãnh nhận ân sủng và đáp lại ơn thánh hóa. Do đó, đừng coi bí tích là thứ gì đó như có “phép thuật”, cũng đừng mê tín dị đoan hoặc tôn sùng ngẫu tượng.
Mọi sự đều phải là sự nối kết thân mật giữa “bộ ba” là Đức Tin, Lòng Sùng Kính và Đời Sống Hằng Ngày. Đó là một Tam Giác Tâm Linh – với ba cạnh bằng nhau và ba góc bằng nhau. Đức tin, lòng sùng kính và đời sống hằng ngày phải là vừa chung vừa riêng, tất cả là phải sống đức tin qua các bí tích. Chúng ta không thể “tách rời” giữa ba điều đó. Một cạnh hoặc một góc tách rời thì không còn là tam giác nữa. Hằng ngày, chúng ta phải sống VỚI Chúa, TRONG Chúa, và VÌ Chúa. Bất kỳ cách sống nào khác đều là sống giả dối, vì chúng ta đã được rửa tội, được tái sinh trong Chúa Thánh Thần. Sống như không sống, gặp chăng hay chớ, sống tiêu cực, sống buông thả, sống bất cần,… đó là sống giả dối và là tội phạm thánh.
Chúa sống trong chúng ta
Sự sống của chúng ta là tặng phẩm vô giá do Chúa ban, và trong chúng ta có sự sống của Thiên Chúa, Ngài không muốn rút lại sự sống nơi chúng ta. Trách nhiệm của chúng ta là phải đáp lại ân sủng và sống tích cực hằng ngày.
Sa hỏa ngục vì phạm tội trọng là tại chúng ta từ chối Thiên Chúa, chứ Ngài không muốn ai phải vào nơi đó: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18:14). Chúng ta không muốn sự sống của Thiên Chúa nhưng không thể hủy diệt sự sống, vì sự sống là đời đời. Vào Thiên đàng là được sống sự sống hạnh phúc đời đời, vào Hỏa ngục cũng là sống nhưng là sống đau khổ đời đời. Nói theo “phong cách” Việt ngữ thì vào Thiên đàng là ĐƯỢC sống, còn vào Hỏa ngục thì vào Hỏa ngục là BỊ sống – muốn chết hẳn cũng không chết được. Thật là vô cùng đáng sợ!
Khi chúng ta phạm tội, Thiên Chúa vẫn mời gọi và chờ đợi chúng ta trở lại với Ngài, kông ngừng ban ân sủng chúng ta cần: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5:20). Khi chúng ta lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, mối quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa được phục hồi, và Ngài gia tăng ân sủng nơi chúng ta để chúng ta can đảm xưng thú tội lỗi.
Những người lãnh nhận Bí tích Hôn phối cũng cần hằng ngày cầu xin Chúa giúp đáp lại ân sủng của bí tích này. Cuộc đời không có điều gì dễ thực hiện, nhưng nhờ ân sủng thì người ta có thể làm được cả những việc khó khăn nhất. Thiên Chúa không bao giờ bỏ chúng ta mồ côi (x. Ga 14:18), đúng như Chúa Giêsu đã hứa trước khi Ngài về trời: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).
Chúng ta cần học cách nhìn cuộc đời qua lăng kính của Giáo hội. Điều này xảy ra khi chúng ta dành thời gian để cầu nguyện riêng, khi chúng ta sống theo Kinh Thánh, sống bí tích và sống theo giáo huấn của Giáo hội.
Hãy cố gắng trưởng thành tâm linh và canh tân đời sống. Thánh Phaolô khuyên: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12:2). Chúng ta càng nhìn mọi sự theo cách nhìn của Chúa, chúng ta càng dễ nhận biết Thánh Ý Ngài mà theo. Khi cầu nguyện, hãy đọc Kinh Thánh và tìm Ý Chúa để sống đời sống bí tích, Chúa Thánh Thần sẽ đổi mới tâm trí chúng ta và giúp chúng ta nhìn mọi sự bằng tầm nhìn của Đức Kitô và Giáo hội, Nhiệm Thể của Ngài.
Bí tích là dấu chỉ hữu hình về thực thể vô hình. Năm Gia Đình, chúng ta nói về Bí tích Hôn phối.
Hôn nhân là một bí tích, là dấu chỉ hữu hình về Thiên Chúa vô hình sống trong hai vợ chồng qua mối liên kết đời đời: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:6; Mc 10:9). Sự kết hiệp phu thê là đặc ân và sức mạnh kỳ diệu vì được chính Thiên Chúa liên kết. Thiên Chúa hằng sống không ngừng sản sinh hoa trái trong cuộc đời họ. Vợ chồng là dấu chỉ về quyền năng của Chúa trên thế gian. Mọi việc họ làm riêng hoặc chung đều là sống bí tích hôn phối. Những công việc hằng ngày như nấu ăn, rửa chén, lau nhà, giặt giũ, giáo dục con cái, lao động kiếm tiền sinh sống,… Bề ngoài xem chừng đơn giản và bình thường, nhưng bên trong tiềm ẩn sức mạnh phi thường để làm họ nên thánh. Đời sống hôn nhân là nền tảng của sự nên thánh, tình yêu là hạt giống được Thiên Chúa gieo trồng. Đời sống chung có niềm vui và nỗi buồn, thậm chí có thể buồn nhiều hơn vui, vất vả và hy sinh, căng thẳng và thất vọng, cô đơn và chán nản,… Nhưng đừng quên rằng, trời có lúc nắng lúc mưa, lúc gió nhẹ lúc bão tố, lúc hạn hán lúc mưa dầm, lúc nóng lúc lạnh,… Thế thì cuộc đời chúng ta cũng vậy thôi!
Sự yếu đuối và lỗi lầm của người này được bù đắp bằng nhân đức của người kia. Mỗi người đều có cái mà người kia thiếu. Do đó, hôn nhân là sự kết hợp để bù đắp cho nhau – nói khôi hài là “bù lỗ” lẫn nhau. Hệ quả này do tình yêu chân thành dành cho nhau để cùng phát triển tâm linh và chuyển hóa tinh thần. Nếu hai vợ chồng có thói quen nhìn nhau qua lăng kính bí tích, tức là thấy vẻ đẹp của Thiên Chúa trong linh hồn của nhau và tìm cách đề cao vẻ đẹp đó bằng cách xây dựng lẫn nhau, phát triển lẫn nhau theo hình ảnh của Đức Giêsu Kitô, thì Bí tích Hôn phối sẽ mang ấn tín của Thiên Chúa hằng sinh.
Tính khí có thể tạo ra nhiều vấn đề nhưng có thể coi là đòn bẩy tới sự thánh thiện. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi người mỗi tính. Mỗi người phải biết quên mình bằng cách dẹp bỏ tự ái, ích kỷ, tức giận, ghen tương, tham lam,… Tự biết mình để phát triển cá nhân là “mặc lấy chính Đức Kitô”, nhờ đó mà đời sống hôn nhân hoàn tất mục đích của Bí tích Hôn phối.
Nếu phát triển theo hình ảnh của Đức Giêsu Kitô là mục đích sống, các lỗi lầm và sự bất toàn sẽ dần dần giảm bớt, dễ tha thứ cho nhau, sống vì nhau là sống vì Chúa. Nếu một người mát tính và một người nóng tính sống với nhau, chắc chắn dễ xung đột, do đó mà mỗi người đều phải cố gắng: Người mát tính cố gắng bỏ qua, người nóng tính cố gắng kiềm chế. Cách tốt nhất là học theo Chúa Giêsu: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:29). Khác nhau về tính khí là nguyên nhân chính gây ly thân hoặc ly dị, người ta luôn viện cớ:“Không hợp nhau”. Nhưng với người biết học theo Chúa, chính sự khác nhau đó lại là khí cụ định hình họ theo khuôn mẫu của Chúa và giúp họ nên thánh.
Đời sống gia đình là nền tảng của xã hội, là xương sống của nhân loại. Đời sống gia đình tùy thuộc vào động thái CHO và NHẬN lẫn nhau. Mỗi người đều có một vị trí cần thiết nhất định, đừng bao giờ nghĩ mình hơn người khác – chồng nghĩ mình hơn vợ, hoặc vợ nghĩ mình hơn chồng. Gạch và hồ (vữa) đều có giá trị riêng. Không có hồ hoặc không có gạch thì không thể có ngôi nhà. Nhiều câu nhỏ mới có thể xếp thành giàn cao cho dây leo. Những cái nhỏ nhưng lại quan trọng lắm. Đời sống hôn nhân cũng vậy, hằng ngày có những niềm vui và nỗi buồn, những điều hay và sai sót, những thỏa mãn và lo lắng, những thành công và thất bại,… tất cả đều là những viên gạch nhỏ để tạo nên công trình gia đình. Những thứ đó xem chừng vô ích và không có mục đích, nhưng không phải vậy. Sự chịu đựng hết ngày này qua ngày khác chính là cuộc sống. Cuộc sống là thế đấy! Chẳng vậy mà Chúa Giêsu đã bảo: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:34).
Sự chán nản làm tâm hồn kiệt quệ, vì thế mà luôn phải cố gắng “vượt qua chính mình”. Tự giúp mình rồi trời sẽ giúp. Thiên Chúa là Đấng quan phòng, Ngài biết rõ chúng ta hơn chúng ta biết chính mình. Đôi khi chúng ta nghĩ như thế là “trắng tay”, là thua thiệt, là thất bại, nhưng nếu nhìn bằng cách nhìn của Chúa, chúng ta sẽ thấy sự khôn ngoan của Ý Chúa. Tất nhiên chúng ta phải cố gắng nhiều vì đó là việc làm không dễ chút nào đâu! Nếu hợp tác với Ngài và cố gắng “đãi cát tìm vàng”, chúng ta có thể nhận thấy linh hồn mình có sự thay đổi, đức tin thêm mạnh mẽ, đức cậy (hy vọng) thêm vững vàng, và đức mến thêm sâu sắc. Chúng ta sẽ nhận thấy Chúa Thánh Thần vẫn tác động trong mọi “ngõ ngách” của cuộc đời chúng ta, ngay cả khi chúng ta rất đau khổ và tưởng chừng tuyệt vọng.
Đời sống bí tích phải được dẫn tới sức mạnh của chính bí tích khi chúng ta gặp khó khăn. Mỗi linh mục phải hiểu rằng Bí tích Truyền Chức Thánh trao ban cho mình quyền chữa lành và được chữa lành, quyền tháo cởi, quyền thánh hóa và tế lễ. Dù khó khăn tới mức nào thì họ vẫn phải nhận thức được rằng các quyền này là do Thiên Chúa trao ban để phục vụ chứ không phải để được phục vụ hoặc lạm quyền, phải tăng thêm đức tin nhờ Thiên Chúa tác động nơi mình. Làm bất cứ điều gì cũng là để nên giống Đức Kitô – và phải như vậy. Linh mục là khí cụ của Thiên Chúa, là sứ giả của Ngài đối với thế gian.
Bí tích Hôn phối cũng tương tự. Cha mẹ là khí cụ của Thiên Chúa đối với con cái, cha mẹ phải giáo dục con cái nên giống Đức Kitô. Mội vợ chồng cũng phải là các chứng nhân của Đức Kitô đối với xóm giềng, xã hội, cộng đồng. Quyền này làm cho họ có thể sống chung với nhau, chia sẻ quyền đó cho thế giới, với những người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa. Khi lãnh nhận Bí tích Truyền Chức Thánh, nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, linh mục tiếp tục công việc của Đức Kitô: “Này là Mình Thầy, này là Máu Thầy”. Thần Lương nuôi sống dân Chúa không bao giờ hết. Tương tự, qua Bí tích Hôn phối và sức sống của các bí tích, hai người nam và nữ trở nên một xác thịt và trổ sinh hoa trái của tình yêu, họ nhìn con cái và nói với nhau: “Đây là thân mình của chúng ta, đây là Đền Thờ của Thiên Chúa”.
Nếu vợ chồng cùng nhau khởi đầu một ngày mới và đặt mình trước mặt Chúa, nhận biết sự hiện diện của Ngài trong họ và xung quanh họ, họ sẽ được Ngài chúc lành và đồng hành trên mọi nẻo đường và trong mọi công việc. Trước khi làm gì hoặc ra khỏi nhà, hãy làm Dấu Thánh Giá và cầu xin Chúa chúc bình an: “Cúi xin Chúa sáng soi cho chúng con biết việc phải làm…”. Dấu Thánh Giá như việc xức dầu trong tình yêu Thiên Chúa, và tình yêu đó có sức mạnh hơn cả Tử Thần, giúp họ vượt qua bất kỳ thử thách nào.
Hành động như vậy là sống đức tin, sống bí tích. Vợ chồng sống tốt lành như vậy thì sẽ không hận thù, không ngoại tình, không lạnh nhạt, không hờ hững,… nhưng luôn biết yêu thương, tha thứ, thể hiện đức ái qua từng động thái. Những việc bình thường nhưng được thực hiện một cách phi thường. Đó là càng càng càng hoàn thiện theo ý muốn của Đức Kitô để nên thánh.
Có ba nhân đức đối thần: Tin, cậy, mến. Nhưng có rất nhiều nhân đức đối nhân: Yêu thương, kiên nhẫn, hiều dịu, chịu đựng, trung thành (chung thủy), tin tưởng, kiềm chế, tha thứ, đại lượng, khiêm nhường,… Nói chung là để Thiên Chúa hướng dẫn và tác động như Chúa Giêsu tuân phúc Thánh Ý Chúa Cha, như Đức Maria xin vâng Ý Chúa. Khi chống lại khuynh hướng xấu hằng ngày, có lúc chúng ta cũng cảm thấy mỏi mệt, uể oải và yếu đuối. Nhưng nếu cố gắng kiên trì và vượt qua thì mọi sự sẽ ổn. Thiên Chúa biết rõ chúng ta, Ngài không thử thách chúng ta, nhưng Ngài muốn để chúng ta tự lập công đức. Trong đời sống tâm linh, hãy cố gắng đừng bao giờ để trì trệ, uể oải, yếu đuối, mù lòa, bại liệt,…
Mỗi bí tích đều có sự hiện diện của Thiên Chúa. Khi sống Bí tích Hôn phối, chúng ta phải tìm được nguồn sống nơi Giếng Nước Trường Sinh của Thiên Chúa, và gặp gỡ Đức Kitô – như phụ nữ Sa-ma-ri đã gặp được chính Đấng Hằng Sinh là Đức Giêsu Kitô (x. Ga 4:7-42). Trong Đức Giêsu, vợ chồng là những chứng nhân sống động về quyền của Thiên Chúa. Đó cũng là hình ảnh sống động của Một Thiên Chúa Tam Vị Nhất Thể (Chúa Ba Ngôi).
Thiết kế và cách nghĩ của nam và nữ đều khác nhau. Khác nhau không là để đối nghịch nhau, mà là để bù đắp cho nhau, để hoàn thiện lẫn nhau. Phụ nữ dịu hiền, yêu thương, nhịn nhục, nhẹ nhàng, e ấp, bẽn lẽn,… là để khuyến khích, vỗ về, an ủi, giải hòa,… Phụ nữ có sức chịu đựng dẻo dai khi gặp trắc trở, có trực giác khi nguy hiểm, chân thật khi thất bại, khéo xoay xở lúc khó khăn. Họ cũng rất mạnh mẽ và quyết liệt, vì họ là sóng ngầm (dữ dội hơn sóng cồn), như người ta nói: “Đàn bà muốn là trời muốn”. Chẳng vậy mà người ta nói: “Phía sau sự thành công của người chồng luôn có bóng dáng của người vợ”. Hậu trường luôn là “bộ mặt thật” của sân khấu, hậu phương rất cần cho tiền tuyến trong thời chiến. Sức mạnh của phụ nữ là chính sự yếu đuối của họ.
Trái lại, đàn ông khỏe mạnh về thể lý, sâu sắc trong ý nghĩ, thẳng thắn, thực tế và sáng tạo. Đàn ông có khả năng bảo vệ, chống mũi chịu sáo, khuyên giải, cương nghị, tự tin, tự biết mình, nhưng cũng dễ tự ái. Đàn ông cần người biết đánh giá cao khả năng của họ, và biết lắng nghe họ. Đàn ông “cứng” nên cần phụ nữ “mềm” để dung hòa – và ngược lại.
Về việc giáo dục con cái, tục ngữ Việt Nam so sánh: “Mẹ đánh một trăm (roi) không bằng cha răn một tiếng”. Đó là hệ lụy tất yếu vậy!
Tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi làm cho tình yêu phu thê phát triển trong gia đình. Chúa Cha được biểu hiện qua việc phát triển các phẩm chất về lòng trắc ẩn và lòng thương xót khi đàn ông dần dần hấp thụ các nhân đức như hiền lành và thông cảm với phụ nữ. Chúa Con được biểu hiện qua việc phát triển các phẩm chất về đức khiêm nhường và dịu dàng khi phụ nữ dần dần hấp thụ tính mạnh mẽ và tự biết mình nơi đàn ông. Tình yêu dành cho nhau càng phát triển thêm để tạo ấn tượng về hình ảnh đẹp của cha mẹ nơi con cái. Đó là chu kỳ gia đình, và là dấu chỉ hữu hình về Thiên Chúa Ba Ngôi.
Chúa Cha nhiệm sinh Chúa Con, tình yêu đó nhiệm xuất Chúa Thánh Thần. Trong gia đình cũng tương tự, đàn ông biểu hiện Chúa Cha, phụ nữ biểu hiện Chúa Con, và con cái biểu hiện Chúa Thánh Thần, vì chúng là kết quả của tình yêu giữa cha mẹ của chúng. Ba Ngôi riêng biệt nhưng vẫn là MỘT Thiên Chúa. Mỗi thành viên đều riêng biệt nhưng vẫn là MỘT gia đình. Mỗi người đều có tố chất mà các thành viên khác cần, tính cách của các thành viên khác nhau là để bổ túc lẫn nhau, học hỏi lẫn nhau – chứ không để đối nghịch nhau.
Tình yêu tăng cao khi gia đình gặp đau khổ hoặc mất mát. Tình yêu cũng tăng cao khi gia đình có niềm vui. Tình yêu đó làm cho các thành viên tăng thêm niềm tin và hy vọng để tiếp tục đồng lao cộng khổ với nhau trong mọi hoàn cảnh.
Hôn nhân là bí tích, xuất phát từ tình yêu Thiên Chúa, do đó không thể nói là gia đình sống bí tích nếu mọi thành viên không yêu thương nhau thật lòng. Cuộc đời của chúng ta được tạo nên bởi tình yêu nên chúng ta phải BIẾT YÊU và có QUYỀN ĐƯỢC YÊU. Đức Tin và Đức Cậy tạo nên Đức Mến. Nếu chúng ta làm cho các nhân đức này giảm bớt vì ích kỷ, chúng ta tự tách rời khỏi nguồn sống ấm áp, tốt lành, tử tế và vui mừng. Thiên Chúa luôn muốn điều tốt cho chúng ta, chỉ tại chúng ta nên chúng ta mới thất vọng, u buồn, đau khổ,… Có tình yêu, người ta vẫn thấy vui mừng ngay trong nỗi đau khổ.
Hãy lãnh nhận Bí tích Thánh Thể để có nguồn sống đích thực của tình yêu, vì Thánh Thể là Thiên Chúa “thật”, là Đức Kitô hữu hình. Và hãy lãnh nhận Bí tích Hòa Giải, vì Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải không thể tách rời. Nhờ Bí tích Hòa Giải mà được chữa lành, và nhờ được chữa lành mà được tiếp nhận Nguồn Sống dồi dào là Bí tích Thánh Thể. Không có Đức Kitô thì chúng ta không thể lên đỉnh cao của sự thánh thiện. Đức Kitô là Cơn Gió đưa cánh-diều-chúng-ta bay lên cao vút, lên tới Chúa Cha hằng sinh.
Gia đình là mối tổng hòa của xã hội, đặc biệt là hình ảnh của Một Chúa Ba Ngôi. Hãy bảo vệ các giá trị gia đình và cùng nhau sống bí tích để có thể cùng dìu nhau vào Thiên Quốc, nơi mà Đức Kitô đã về trước để dọn chỗ cho chúng ta (Ga 14:2-3), và Ngài vẫn đang mong đợi chúng ta.
TRẦM THIÊN THU

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget