Articles by "Giải Đáp Phụng Vụ"

Giải đáp phụng vụ
Buộc xưng tội trong mùa Chay không?
Giải đáp phụng vụ: Buộc xưng tội trong mùa Chay không?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Chúng ta đang sống mùa Chay thánh, mới đây con nghe nói rằng ai không xưng tội trong mùa Chay thì mắc tội trọng. Thưa cha, điều này có đúng không? – J. B., Ocala, Florida, Mỹ.
Đáp: Câu trả lời nhanh cho câu hỏi này là không. Tuy nhiên, câu trả lời nhanh là không hề đơn giản, vì có một số điểm cần lưu ý.
Theo Giáo luật:
“Điều 987
Để hưởng nhờ phương dược cứu độ của bí tích Sám Hối, người Kitô hữu phải được chuẩn bị thế nào để trở về với Thiên Chúa bằng cách từ bỏ các tội đã phạm và quyết tâm sửa mình.
“Điều 988
§1. Sau khi đã xét mình kỹ lưỡng và ý thức được tội của mình, người Kitô hữu buộc phải xưng các loại tội trọng và số tội trọng đã phạm sau khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, mà chưa được quyền tháo gỡ của Giáo Hội tha trực tiếp và họ chưa xưng trong lần xưng tội riêng.
§2. Khuyên các Kitô hữu cũng xưng cả những tội nhẹ nữa (CIS 901-902).
“Điều 989
Mọi tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, buộc phải xưng các tội trọng của mình một cách trung thực, một năm ít là một lần (CIS 906 ; CIO 719) (Bản dịch Việt ngữ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam).
Tuy nhiên, Giáo Luật cũng nói như sau về việc Rước lễ:
“Điều 920
§l. Sau khi đã rước lễ lần đầu, tất cả mọi tín hữu buộc phải rước lễ mỗi năm ít là một lần.
§2. Phải chu toàn mệnh lệnh này trong mùa Phục Sinh, trừ khi phải chu toàn vào một thời gian khác trong năm vì một lý do chính đáng (CIS 859 ; CIS 860 ; CIO 708)” (Bản dịch, như trên).
Các luật này bắt nguồn từ Hiến chế 21 của Công đồng Latêranô thứ IV năm 1215. Xin đọc:
“Tất cả các tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, phải xưng tất cả tội lỗi của mình một cách chân thành với linh mục của mình ít nhất một năm một lần, và chăm chỉ làm việc đền tội do linh mục đưa ra cho mình. Họ hãy cung kính Rước Thánh Thể ít nhất vào lễ Phục sinh, trừ khi họ nghĩ rằng, vì một lý do chính đáng và theo lời khuyên của vị linh mục, họ nên tránh rước lễ trong một thời gian. Nếu không, họ sẽ bị cấm không được bước vào một nhà thờ trong suốt cuộc đời của họ, và họ sẽ bị từ chối chôn cất theo nghi thức Công Giáo sau khi qua đời. Xin công bố thường xuyên sắc lệnh cứu độ này trong các nhà thờ, để không ai có thể tìm ra cái cớ cho việc không hiểu biết của mình. Nếu bất kỳ người nào muốn, vì các lý do tốt, xưng tội với một linh mục khác, người ấy phải hỏi ý kiến của linh mục của mình và xin phép ngài; nếu không, linh mục ấy sẽ không có quyền tha hoặc ràng buộc họ. Linh mục cần phải sáng suốt và thận trọng, để cho giống như một bác sĩ lành nghề, ngài có thể đổ rượu và dầu trên các vết thương của người bị thương. Linh mục cần cẩn thận hỏi về hoàn cảnh của hối nhân và tội, để ngài thận trọng phân định lời khuyên cần thiết và nên áp dụng sự chữa trị nào, sử dụng các phương thế khác nhau để chữa lành người bệnh. Tuy nhiên, linh mục cần chăm sóc tối đa, không phản bội tội nhân bằng lời nói, cử chỉ, hoặc bất kỳ cách nào khác. Nếu linh mục cần lời khuyên khôn ngoan, ngài cứ thận trọng tìm kiếm, nhưng không đề cập đến người có liên quan. Vì nếu ai giả định tiết lộ một tội lỗi mà mình đã biết khi ngồi tòa giải tội, chúng tôi tuyên sắc rằng ngài không chỉ bị đình chỉ tác vụ linh mục của mình, mà còn phải ở trong một tu viện kín để làm việc đền tội vĩnh viễn nữa”.
Các nguyên tắc này cũng được nêu ra trong sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo:
“1389. Giáo Hội buộc các tín hữu phải tham dự thánh lễ vào các ngày Chúa Nhật và lễ trọng (x. OE 15) rước lễ mỗi năm ít là một lần vào mùa Phục Sinh, trừ khi có lý do chính đáng, có thể chu toàn vào mùa khác trong năm (x. CIC, khoản 920), trước đó phải chuẩn bị tâm hồn bằng bí tích Giao Hòa. Giáo Hội hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ vào các ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng, hay thường xuyên hơn nữa, rước lễ hằng ngày” (Bản dịch Việt ngữ của Ban giáo lý, Tổng Giáo phận Sài Gòn).
Và sau đó:
“Các điều răn của Giáo Hội
“2041. Các điều răn Giáo Hội nhằm nâng đỡ một đời sống luân lý gắn liền với đời sống phụng vụ và được đời sống này nuôi dưỡng. Tính cách bó buộc của các luật thiết định do các mục tử ban hành này có mục đích bảo đảm cho các tín hữu mức cần thiết phải có trong tinh thần cầu nguyện, trong cố gắng sống hợp với luân lý, trong sự gia tăng lòng mến Chúa yêu người.
“2042. Ðiều răn thứ nhất (vào các Chúa Nhật và các ngày lễ buộc, các tin hữu buộc phải tham dự thánh lễ và không làm những công việc nô dịch) đòi các tín hữu thánh hóa ngày mừng Chúa Phục Sinh, cũng như những lễ phụng vụ chính để tôn kính các mầu nhiệm của Chúa, của Ðức Trinh Nữ Maria Diễm Phúc, của các thánh, trước hết bằng việc tham dự cử hành Bí Tích Thánh Thể, là bí tích qui tụ cộng đoàn, và tránh tất cả những công việc tự bản chất ngăn trở việc thánh hóa những ngày ấy (x. CIC, 1246-1248; CCEO 880, 3; 881).
“Ðiều răn thứ hai: (mọi tín hữu buộc phải xưng tội trong một năm ít là một lần) bảo đảm việc chuẩn bị rước Thánh Thể bằng việc chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa Giải, nối tiếp công việc hoán cải và tha thứ của bí tích Thánh Tẩy (x. CIC, 989, CCEO, 719)
“Ðiều răn thứ ba: (mọi tín hữu buộc phải rước Mình Thánh Chúa ít là một lần trong mùa Phục Sinh) bảo đảm mức tối thiểu trong việc rước Mình Máu Chúa Giêsu. Ðiều răn này phải được chu toàn vào mùa Phục Sinh, vì lễ Phục Sinh là nguồn gốc và là trung tâm của phụng vụ Ki-tô giáo (x. CIC, 920, CCEO, 708-881).
“2043. Ðiều răn thứ tư: (vào những ngày sám hối do Hội Thánh ấn định, các tín hữu buộc phải kiêng thịt và giữ chay) bảo đảm thời gian tu luyện và sám hối để chuẩn bị tâm hồn mừng các ngày lễ phụng vụ. Chay tịnh và hãm mình góp phần giúp chúng ta làm chủ được các bản năng và đạt tới tự do nội tâm (x. CIC, 1246, CCEO, 881,1,4; 880,3)).
“Ðiều răn thứ năm (các tín hữu buộc phải đóng góp cho các nhu cầu của Giáo Hội) dạy các tín hữu có bổn phận chu cấp cho những nhu cầu vật chất của Giáo Hội, tùy theo khả năng mỗi người (x. CIC, 222; CCEO 25)” (Bản dịch, như trên).
Từ các tài liệu này, chúng ta có thể suy luận rằng nghĩa vụ trước tiên là Rước lễ ít nhất một năm một lần, đặc biệt là trong mùa Phục Sinh. Nghĩa vụ phải đi xưng tội trước khi Rước lễ là liên quan đến nghĩa vụ Rước lễ vào mùa Phục Sinh, để chắc chắn rằng người ấy ở trong tình trạng ân sủng. Mặc dù đây là một suy luận theo luận lý học từ quan điểm thiêng liêng, nhưng phải nhận xét rằng Giáo luật điều 920 §2 qui định xưng tội mỗi năm một lần và không nói về mùa nào cả.
Bộ Giáo luật hiện tại tạo điều kiện dễ dàng cho việc xưng tội, so với Bộ Giáo luật cũ, chẳng hạn loại bỏ yêu cầu phải xưng tội với chính cha xứ của mình để chu toàn nghĩa vụ.
Thời gian để hoàn thành nghĩa vụ mùa Phục Sinh, như đôi khi nó được gọi, có thể khác nhau giữa các nước. Tại Mỹ, thời gian này là từ Chúa Nhật thứ I Mùa Chay đến hết ngày Lễ Chúa Ba Ngôi; ở các nước khác, mùa có thể bắt đầu từ ngày thứ Tư Lễ Tro và kết thúc vào ngày Chúa Nhật Chúa Thăng Thiên.
Tất nhiên, nghĩa vụ mùa Phục Sinh là một yêu cầu tối thiểu để động viên mọi người nhận lãnh các bí tích. Lý tưởng nhất, một người Công Giáo Rước lễ mỗi lần tham dự Thánh Lễ. Một người Công Giáo cũng nên đi xưng tội bất cứ khi nào mình nhận thức đã phạm tội trọng, và việc xưng tội thường xuyên là rất được khuyến khích, thậm chí nếu chỉ có tội nhẹ. Như Sách Giáo lý Giáo Hội Công Giáo nhắc nhở chúng ta, điều răn này nói: “bảo đảm việc chuẩn bị rước Thánh Thể bằng việc chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa Giải, nối tiếp công việc hoán cải và tha thứ của bí tích Thánh Tẩy”.
Nếu các đề nghị này được tuân theo, mặc dù nghĩa vụ rước lễ trong mùa Phục Sinh vẫn còn, việc một người ta cần đi xưng tội trong Mùa Chay, hoặc ít nhất vào thời điểm nào đó trước khi Rước lễ vào mùa Phục sinh, sẽ không còn tồn tại, trừ khi người ấy có tội trọng. (Zenit.org 23-2-2016)
Nguyễn Trọng Đa
Nguồn: vietcatholic.org

Giải đáp phụng vụ
Đeo chuỗi Mân Côi như là dây chuyền được không?
Giải đáp phụng vụ: Đeo chuỗi Mân Côi như là dây chuyền được không?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Tôi đã thấy một số người đeo chuỗi Mân Côi vào cổ như một sợi dây chuyền, và trong thực tế, một nữ học sinh lớp năm hỏi tôi liệu việc đeo chuỗi Mân Côi như thế là có tội không. Tôi trả lời với học sinh ấy rằng tôi không tin rằng đó là một tội tự thân (per se), nhưng vì chuỗi là một lời cầu nguyện tuyệt vời và được ưa chuộng nhất của Đức Mẹ, nên tôi nghĩ rằng việc ấy là thiếu kính trọng, không kính cẩn (không phân biệt là chuỗi đã được làm phép hay chưa). Học sinh ấy liền hỏi về vòng chuỗi 10 hạt đeo ở tay của tôi: “Còn việc đeo vòng chuỗi 10 hạt này thì sao, thưa cô?”. Đó là một câu hỏi hay, trong ánh sáng của Thánh giá và chuỗi Mân Côi, hoặc vòng chuỗi 10 hạt, dường như có mặt ở khắp nơi trong những ngày này, như là đồ trang sức thời trang. Thưa cha, tôi nên trả lời thế nào với cô bé? – J. M., Leavenworth, Kansas. Mỹ.
Đáp: Sự tương đồng gần nhất với một qui định về đề tài này được tìm thấy tại Điều 1171 của Bộ Giáo Luật. Mời đọc: “Các đồ vật đã được cung hiến hay làm phép để dùng vào việc phụng tự phải được sử dụng cách kính cẩn, không được dùng vào việc phàm tục hay bất xứng, cho dù những vật thánh ấy thuộc sở hữu của tư nhân” (Bản dịch Việt ngữ của các Linh Mục: Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện, Mai Ðức Vinh).
Rất có thể rằng luật này không hoàn toàn áp dụng cho trường hợp của chúng ta, vì nó đề cập chủ yếu đến các vật thánh dành cho phụng vụ, như chén lễ và lễ phục, hơn là tràng chuỗi. Nhưng đồng thời, sự gợi ý để sử dụng các vật thánh với sự kính trọng và kính cẩn như thế, có thể được mở rộng một cách hợp lý cho tràng chuỗi, thánh giá, huy chương và các vật tương tự.
Ngoài ra, việc đeo một đồ vật thánh là không giống như cách sử dụng nó một cách thế tục hoặc không phù hợp. Trong thực tế, tu sĩ nhiều Dòng tu đeo chuỗi Mân Côi như một phần của bộ áo Dòng của họ, thường đeo từ dây lưng. Cũng có nhiều trường hợp lịch sử là giáo dân đeo chuỗi Mân Côi cho các mục đích đạo đức. Thí dụ, trong cuốn sách “Bí mật của Kinh Mân Côi”, Thánh Louis de Montfort minh họa các kết quả tích cực của việc mang chuỗi Mân Côi, trong một tập phim về cuộc đời của vua Alfonso VI xứ Galicia và Leon.
Tôi nghĩ rằng chìa khóa để trả lời câu hỏi này có thể được tìm thấy trong thư Thánh Phaolô:“Vì vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa” (1 Cr 10:31, Bản dịch Việt ngữ của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ). Nói cách khác, không nên có các hành động thờ ơ hoặc không thích hợp trong cuộc sống của một Kitô hữu.
Nếu lý do đeo chuỗi Mân Côi là như một tuyên xưng đức tin, như một lời nhắc nhở để lần chuỗi, hoặc vì lý do tương tự “để tôn vinh Thiên Chúa”, thì không có gì để phản đối. Nhưng sẽ là bất kính khi đeo chuỗi như là đơn thuần đồ trang sức.
Đây là điều cần nhớ kỹ trong trường hợp đeo một chuỗi Mân côi quanh cổ. Trước hết, trong khi chưa được rõ, nó không phải là một thực hành chung của người Công Giáo.
Thứ hai, trong thời gian gần đây, một số nghệ sĩ công chúng tên tuổi đã phổ biến thời trang đeo chuỗi Mân Côi quanh cổ, và không chính xác là “làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa”. Và đã xuất hiện trong một số miền của Mỹ và các nơi khác, việc đeo chuỗi quanh cổ đã trở thành một huy hiệu băng đảng liên quan đến sự nhận dạng thành viên.
Do đó, trong khi một người Công Giáo có thể đeo chuỗi Mân Côi quanh cổ vì một mục đích tốt, người ấy nên xem xét liệu sự thực hành này sẽ được hiểu một cách tích cực chăng, trong bối cảnh văn hóa của mình. Nếu bất kỳ sự hiểu lầm là có khả năng xảy ra, thì tốt hơn là nên tránh sự thực hành ấy.
Đồng thời, là người Công Giáo, chúng ta nên cho rằng ý định của người đeo chuỗi Mân Côi là tốt đẹp, trừ ra khi các yếu tố bên ngoài muốn nói đến việc khác.
Lý luận tương tự cũng được nhận xét với việc mang vòng chuỗi 10 hạt và nhẫn hạt, mặc dù trong trường hợp này có ít nguy cơ nhầm lẫn ý nghĩa. Chúng không bao giờ là đồ trang sức thuần túy, nhưng được đeo như một dấu hiệu của đức tin.
Theo một số nguồn, chuỗi 10 hạt hoặc nhẫn hạt đã được sử dụng trong thời gian bách hại, vì chúng dễ dàng được che giấu, và có thể được sử dụng, mà không thu hút sự chú ý không mong muốn.
Chúng cũng trở nên phổ biến nơi các binh lính Công Giáo ở tiền tuyến, đặc biệt trong Chiến tranh thế giới thứ I.
Quan trọng hơn nhiều so với việc đeo chuỗi Mân Côi, là thực sự dùng chuỗi, kể cả công khai, để lần chuỗi và cầu nguyện. Như thế, nó thực sự được làm “để tôn vinh Thiên Chúa.”
Sau bài trả lời trên, một độc giả, hiện là một nhà truyền giáo giáo dân ở Honduras, cung cấp thêm nhận xét sau đây:
“Theo kinh nghiệm của tôi ở El Salvador và Honduras, không phải là lạ khi nhìn thấy đàn ông và cả đàn bà đeo tràng chuỗi quanh cổ. Các tràng hạt này thường rất rẻ tiền, bằng nhựa hoặc gỗ. Người đeo chúng phần lớn là người nghèo, và đa số họ có một đức tin mạnh mẽ. Mặc dù điều này có thể là không phổ biến ở Mỹ và Châu Âu, tôi nhìn thấy điều này ở đây thường xuyên hơn.
“Trong một cách nào đó, đây là một cách thức để người dân – hầu hết là người trẻ tuổi – xác định mình là người Công Giáo. Một số nhân viên mục vụ giáo dân đeo chuỗi, vì họ không có thánh giá để đeo.
“Tuy nhiên, tôi đã nghe nói rằng có một số thành viên băng đảng ở các thành phố ở Honduras, đeo chuỗi Mân côi như là một loại bùa hộ mệnh, để bảo vệ họ. Tôi không nghĩ rằng đó là một cách để xác định thành viên băng đảng của họ, nhưng là một cách tìm kiếm sự an ủi trong thế giới rất bất an của người nghèo đô thị. Đó là trường hợp hoàn toàn khác.
“Nhưng điều quan trọng là hãy nhớ rằng ở đây giữa người nghèo, việc đeo chuỗi quanh cổ, mặc dù nó có vẻ như là một loại “trang sức”, là một biểu lộ của đức tin.
“Tôi không biết liệu các người trẻ thường lần chuỗi không, nhưng trong số rất nhiều người dân ở các vùng nông thôn ở đây tại Honduras, việc lần chuỗi là thường có – thường trong các nhóm gia đình, trong cộng đoàn cơ bản, hoặc thậm chí trên đài phát thanh Công Giáo nữa. Chuỗi Mân Côi, được lần hoặc đeo quanh cổ, là phổ biến ở đây”.
Cám ơn bạn nhiều. Tôi tin rằng thông tin soi sáng này hoàn chỉnh và khẳng định lực đẩy trung tâm của câu trả lời của tôi: rằng việc đeo chuỗi Mân Côi và các thực hành tương tự chỉ có thể được đánh giá, bằng cách chú ý xem xét bối cảnh địa phương. (Zenit.org 14-6-2011)
Nguyễn Trọng Đa
Nguồn: vietcatholic.org

Giải đáp phụng vụ: Mỗi ngày giáo dân được rước lễ mấy lần?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Trong giáo xứ của chúng con, con đã nhận thấy trong vài năm qua rằng các thừa tác viên Thánh Thể đều rước lễ, trước khi họ cho các giáo dân rước lễ. Vào ngày thứ Sáu, chúng con có nhiều hơn 10 Thánh Lễ. Vì thế, một số thừa tác viên Thánh Thể rước lễ đến sáu hoặc bảy lần, vì họ cảm thấy cần thiết để rước lễ, trước khi họ cho các giáo dân rước lễ. Theo như con hiểu từ Bộ Giáo Luật và Sách Giáo Lý, các tín hữu chỉ có thể rước lễ hai lần trong một ngày. Ngay cả khi tín hữu rước lễ lần thứ hai, người ấy cần phải tham dự đầy đủ Thánh Lễ – V. R., United Arab Emirates (Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất)
Đáp: Bạn đọc trên đây nói chính xác trong việc giải thích Bộ Giáo Luật ở điểm này.
Điều chủ chốt cho câu hỏi là Điều 917. Điều này nói: “Ngoại trừ quy định ở điều 921, triệt 2, ai đã rước lễ rồi thì có thể rước lễ một lần nữa trong ngày đó, nhưng chỉ ở trong Thánh Lễ mà họ tham dự”.
Điều 921§2 nói: “Cho dù ngày ấy họ đã rước lễ rồi, cũng rất nên cho họ rước lễ lần nữa nếu mạng sống của họ bị lâm nguy” (Bản dịch Việt ngữ của các Linh Mục: Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện, Mai Ðức Vinh).
Như vậy, một người Công Giáo có thể rước lễ một lần thứ hai trong ngày, nhưng chỉ trong một Thánh Lễ mà người ấy tham dự. Ngoài Thánh Lễ, việc Rước lễ lần thứ hai hoặc thậm chí lần thứ ba chỉ có thể được thực hiện, như của ăn đàng cho người sắp chết.
Ngoại trừ trường hợp của ăn đàng, người ta nên giữ chay một giờ trước cả hai lần rước lễ.
Huấn thị Redemptionis Sacramentum (Bí Tích Cứu Độ) cũng lặp lại nguyên tắc chung này:
“95. Người giáo dân “đã rước lễ rồi thì có thể rước lễ một lần nữa trong cùng ngày đó, nhưng chỉ ở trong cử hành Thánh Thể mà họ tham dự, ngoại trừ quy định ở điều 921 §2 của giáo luật” (Bản dịch Việt Ngữ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam).
Sự khác biệt giữa Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma và Huấn thị Redemptionis Sacramentum là Huấn thị đề cập đến “người giáo dân”. Điều này được nói rõ, vì Giáo luật đã tiên liệu rằng linh mục đôi khi có thể cử hành ba Thánh lễ trong một ngày, vì lý do mục vụ.
Có một lý do thần học cho điều này, mà trong đó linh mục như là thừa tác vỉên cử hành Thánh lễ được đòi hỏi hoàn thành hy tế, bằng cách chia sẻ Mình và Máu Chúa Kitô. Ngài rước lễ trước khi cho các người khác rước lễ.
Các thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ được cử giúp linh mục cho các tín hữu rước lễ, trong một cách thuận lợi, nhưng họ không có nghĩa vụ phải dự phần vào Bàn Tiệc Thánh như vị linh mục. Họ có bổn phận tuân giữ các qui chế tổng quát của Giáo Hội và như vậy, khi họ quảng đại phục vụ trong hơn hai Thánh lễ, họ phải chọn rước lễ trong hai Thánh lễ, và không rước lễ trong Thánh lễ khác nữa.
Khi họ không rước lễ, họ không buộc phải tham dự trọn Thánh lễ ấy, nhưng chỉ có mặt khi họ chuẩn bị cho các tín hữu rước lễ mà thôi. Lúc này, họ cũng ở trong tình trạng tương tự như tình trạng của nhiều linh mục, trước khi có định chế thừa tác viên Thánh Thể. Tại thời đó, thường các linh mục khác của giáo xứ đi vào nhà thờ, sau phần kinh Lạy Cha, và tham gia việc cho rước lễ. Họ sẽ không rước lễ. Ngoài ra, cũng tại thời đó, giáo luật không cho phép rước lễ nhiều hơn một lần trong một ngày, trừ trường hợp của ăn đàng cho người sắp chết.
Trong hầu hết các quốc gia, đây không phải là một vấn đề thực sự, vì hầu hết các Thánh lễ đều có các thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ, được phân công phục vụ, và chỉ thỉnh thoảng họ mới phục vụ trong hơn một Thánh Lễ.
Dường như trong bối cảnh giáo xứ của bạn đọc trên đây có sự thiếu hụt các người sẵn sàng và/hoặc có đủ điều kiện cho việc phục vụ này, và do đó gánh nặng rơi vào một số người tương đối ít.
Vì vậy, cho đến khi tình trạng thiếu hụt này được khắc phục, tôi xin đề nghị rằng các thừa tác viên ngoại thường nào không rước lễ, xin hãy chờ cho đến khi các thừa tác viên ngoại thường khác rước lễ xong, lúc ấy họ mới tiến tới bàn thờ, tiếp nhận Bình thánh để cho các tín hữu rước lễ. (Zenit.org 27-9-2016)
Nguyễn Trọng Đa
Nguồn: Vietcatholic News

Giải đáp phụng vụ
Chủ tế bẻ Bánh vào lúc nào?
Giải đáp phụng vụ: Chủ tế bẻ Bánh vào lúc nào?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Tại sao trong trình thuật lập Bí tích Thánh Thể, trước khi đọc lời truyền phép, linh mục không bẻ bánh khi nói: “…Ngài bẻ bánh và trao cho các môn đệ…”, con có ý muốn nói, tại sao linh mục chờ đến kinh Agnus Dei (Lạy Chiên Thiên Chúa) mới bẻ Bánh? Con nghĩ rằng câu hỏi này cũng vang lên trong tâm trí của một số linh mục; đó là tại sao, để làm cho có ý nghĩa, một số ít linh mục thực sự bẻ bánh trong khi đọc trình thuật lập Bí tích Thánh Thể. Xin cha giải thích cho con và nhiều người được hiểu! – X. A., thành phố Quezon, Philippines.
Đáp: Trước khi đề cập đến lý do tại sao bánh Thánh không nên được bẻ ra vào lúc gần truyền phép, tôi nhớ lại rằng sự thực hành này đã được đề cập cụ thể trong huấn thị Redemptionis Sacramentum (Bí tích Cứu độ, ngày 25-3-2004), số 55: “Sự lạm dụng sau đây phổ biến ở một vài nơi: trong lúc cử hành Thánh Lễ, linh mục bẻ bánh lúc truyền phép. Một sự lạm dụng như thế đi nghịch lại với truyền thống của Giáo Hội. Nó cần bị dứt khoát bác bỏ và được sửa chữa khẩn cấp” (Bản dịch Việt Ngữ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam).
Có nhiều lý do tại sao truyền thống nghi lễ Latinh không bẻ bánh theo nghi thức vào thời điểm nêu trên, và chúng tôi sẽ cố gắng minh họa một số lý do ấy.
Trình thuật lập Bí tích Thánh Thể mô tả bốn hành động của Chúa Kitô: cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ. Bốn khoảnh khắc này cấu thành nên điều mà chuyên viên phụng vụ Anh giáo nổi tiếng Gregory Dix gọi là “hình dạng” của phụng vụ Thánh Thể.
Thật vậy, Giáo Hội Latinh đã thiết lập một cách nghi thức Phụng vụ Thánh Thể và việc hiệp lễ xung quanh bốn thời khắc này. Việc cầm lấy bánh được diễn tả ở trên bởi nghi thức dâng lễ vật. Việc tạ ơn là yếu tính của Kinh nguyện Thánh Thể. Việc bẻ Bánh được thực hiện trong việc bẻ Bánh ra và việc trao cho các môn đệ của Chúa được thực hiện trong việc Rước lễ.
Trình thuật lập Bí tích Thánh Thể là ở trong Kinh nguyện Thánh Thể, và do đó nằm trong bối cảnh tạ ơn Chúa Cha. Hành động tối cao của việc tạ ơn là mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Trong trình thuật lập Bí tích Thánh Thể, Giáo Hội kể lại với Chúa Cha hành động của Chúa Con, và lệnh truyền của Ngài cho việc tiếp tục hành động tưởng niệm này. Sự tưởng niệm hiệu quả ấy không giới hạn vào sự biến thể của bánh và rượu, nhưng làm cho hiện diện toàn bộ mầu nhiệm cứu độ, khi nhắc lại sự chết, sự phục sinh và lên trời của Chúa Kitô. Không hành vi tạ ơn nào khác cho Chúa Cha có thể sánh bằng với những gì xảy ra trong phụng vụ Thánh Thể cả.
Hiện giờ, bởi vì đối tượng của Kinh Nguyện Thánh Thể là dâng lời tạ ơn lên Chúa Cha, các cử chỉ ấn tượng hướng đến các tín hữu, như bẻ Bánh hoặc làm một cử chỉ diễn đạt trong khi nói “Các con hãy cầm lấy” là bị sai chỗ, và thực sự làm giảm đi ý nghĩa thiết yếu của nghi thức vào thời điểm này.
Người ta có thể chứng minh rằng lập luận trên đây cũng gợi ý rằng, sự thực hành nghi lễ Latinh của việc linh mục cầm bánh và chén thánh trong tay, và trưng ra cho các tín hữu thấy sau khi truyền phép cũng là sai chỗ. Nói theo thần học, cử chỉ cầm Bánh và Chén thánh, và trưng ra cho các tín hữu là không nhất thiết cần thiết cho tính hợp pháp của việc truyền phép, như được chứng minh qua sự thực hành của một số Giáo Hội phương Đông. Cũng là đúng rằng theo lịch sử, nghi thức trưng Bánh và Chén Thánh đã được đề ra, để đáp ứng với một mong muốn đạo đức của tín hữu được nhìn thấy hai hình Bánh và Rượu.
Tuy nhiên, dù có nguồn gốc nào đi chăng nữa, nghi thức trưng Bánh và Chén thánh đã hưởng gần 1.000 năm chấp thuận, như là một phần của phụng vụ phổ quát của Giáo Hội, và như là một hệ luận, đã hướng dẫn và tăng cường đức tin vào Sự hiện diện thực sự của Chúa trong nhiều thế kỷ. Do đó, nó phải được xem như một sự phát triển hữu cơ hợp pháp của phụng vụ. Tôi tin rằng cử chỉ bẻ bánh trước khi truyền phép không nên được nhìn trong cùng ánh sáng, và không chỉ vì nó đã được đặc biệt phản bác.
Nghi lễ Rôma, khi đặt việc bé Bánh sau Kinh Nguyện Thánh Thể và cho đi kèm với bài “Lạy Chiên Thiên Chúa”, nhấn mạnh rằng chúng ta chia sẻ Chúa Kitô Cứu Thế của chúng ta, chứ không phải tấm bánh bình thường. Chúng ta tham gia một bữa tiệc hy tế. Lời cầu xin Chúa thương xót và ban bình an cho chúng ta được củng cố bởi đức tin này. Việc bẻ bánh trước khi truyền phép, và và do đó trước khi hoàn thành lời tạ ơn của chúng ta, làm ảnh hưởng đến ý nghĩa này.
Một lập luận cuối cùng, mặc dù yếu hơn, có thể được đưa ra từ quan điểm của tính hợp lý cho nghi thức. Nếu người ta chấp nhận rằng các từ ngữ “Ngài bẻ bánh” nhất thiết bao hàm việc thực hiện cử chỉ theo nghi thức, thì người ta cũng có thể lập luận rằng việc như thế cũng có thể được áp dụng cho các từ ngữ “ Ngài trao cho các môn đệ của Ngài”. Chúng ta có thể phân phát cách hợp lý Bánh thánh cho mọi người, trước khi đọc lời truyền phép. Tôi không thể tưởng tượng làm thế nào để giải quyết việc trao Chén thánh cả.
Lập luận này, lẽ tất nhiên, là vô lý và chỉ phục vụ cho việc nêu ra rằng không phải mọi từ ngữ nghi thức đòi hỏi một cử chỉ kèm theo, đặc biệt là khi phụng vụ tự nó đã giải nghĩa ý nghĩa sâu xa của nó một cách đầy đủ hơn. (Zenit.org 5-10-2010)
Nguyễn Trọng Đa
Nguồn: vietcatholic.org

30 câu học hỏi Mùa Chay và Mùa Phục Sinh, 30 cau hoc hoi mua chay va mua phuc sinh
1. Mùa Chay là gì ?
        Mùa Chay là mùa sám hối đặc biệt để chuẩn bị mừng lễ Vượt Qua của Đức Kitô.

2. Mùa Chay kéo dài bao nhiêu ngày ? Khởi đầu và két thúc khi nào ?
        Mùa Chay kéo dài 40 ngày, gồm 6 Chúa Nhật, khởi đầu từ Thứ tư Lễ Tro và kết thúc trước thánh lễ Tiệc Ly chiều Thứ năm Tuần Thánh.

3. Việc xức tro mang ý nghĩa gì ? Khi xức tro thừa tác viên đọc lời gì ?
        Việc xức tro nhắc nhở người Kitô hữu ý thức về thân phận thụ tạo mỏng dòn yếu đuối chóng qua, vì thế phải sống với thái độ khiêm tốn trước mặt Chúa để nhận ra và sám hối về những lầm lỗi thiếu sót của mình. Khi xức tro thừa tác viên đọc “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”

4. Thế nào là ăn chay ?
        Chỉ ăn một bữa no, và có thể ăn nhẹ, lót dạ vào bữa sáng và bữa tối không ăn vặt (kẹo, bánh, trái cây, chè) và không được giải khát bằng nước ngọt, bia, rượu, café.

5. Người ăn chay phải có tinh thần gì ?
        Người ăn chay phải có tinh thần bác ái, chia sẻ, giúp đỡ những người túng thiếu, nghèo đói.

6. Theo luật Giáo hội, người tín hữu tuổi nào buộc giữ chay và kiêng thịt ?
        Mọi người từ tuổi trưởng thành, tức là 14 tuổi trọn cho đến khi bắt đầu 60 tuổi thì buộc giữ chay. Còn luật kiêng thịt thì từ 14 tuổi trọn trở lên.

7. Thế nào là kiêng thịt (heo, bò, gà… ) được phép ăn tôm, cá, trứng …)
        Ý nghĩa của việc kiêng thịt là nhắc nhở người tín hữu phải chế ngự và làm chủ các ham muốn bản thân.

8. Bốn phương thế Giáo hội thường dùng trong Mùa Chay thánh là gì ?
        Là SÁM HỐI, ĂN CHAY, CẦU NGUYỆN, VIỆC LÀM BÁC ÁI.

9. Mùa Chay mang những ý nghĩa gì ?
        Mùa Chay là thời gian luyện tập đức tin của các tín hữu được thêm vững mạnh.
        Mùa Chay còn chuẩn bị cho anh chị em dự tòng đón nhận sự sống thiêng liêng nhờ việc sống tinh thần bí tích Thanh Tẩy.

10. Thế nào là sám hối ?
        Sám hối là can đảm và khiêm tốn nhìn nhận những lỗi lầm mình đã phạm.

11. Tuần lễ nào là cao điểm của Mùa Chay và của cả năm Phụng vụ ?
        Tuần lễ thánh bắt đầu bằng Chúa Nhật lễ Lá.

12. Trong Mùa Chay, Hội Thánh buộc người tín hữu giữ chay và kiêng thịt vào những ngày nào ?
        Trong Mùa Chay, Hội Thánh bộc người tín hữu giữ chay và kiêng thịt trong hai ngày là Thứ tư lễ Tro và Thứ sáu tuần thánh.

13. Chúa Nhật lễ Lá, Hội Thánh tưởng niệm biến cố gì ?
        Chúa Nhật lễ Lá, Hội Thánh kỳ niệm biến cố Chúa Giêsu long trọng vào thành Giêrusalem để hoàn tất chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

14. Lá đã được làm phép trong lễ Lá được lưu giữ lại tại mỗi gia đình nhắc nhở điều gì ?
        Lá đó nhắc nhở chúng ta về Chúa Kitô vinh thắng.

15. Tam Nhật Vượt Qua có ý nghĩa gì đối với người Kitô hữu ?
        Với Tam Nhật Vượt Qua, người tín hữu cùng sống với Đức Kitô trong bữa Tiệc Ly, theo Ngài lên Núi Sọ, bước vào chốn an nghỉ của Người, và chiêm ngắm Ngài sống lại vinh quang.

16. Trong Tuần Thánh, Giáo hội cử hành những cuộc tưởng niệm nào ?
        Trong Tuần Thánh, Giáo hội cử hành đặc biệt về những biến cố trong những ngày cuối cùng của Đức Kitô là cuộc khổ nạn, sự chết và Phục sinh của Ngài.

17. Cử hành thánh lễ trong Mùa Chay và Mùa Phục sinh khác nhau ở điểm nào ?
Mùa Chay
-      Không đọc kinh Vinh Danh
-      Không đệm đàn khi không có tiếng hát.
-      Không đọc hoặc hát Allêluia
-      Không trưng bông trên bàn thờ.
-      Chủ tế mặc áo tím.

Mùa Phục Sinh
-      Đọc kinh Vinh Danh
-      Được đệm đàn khi không có tiếng  hát.
-      Đọc hoặc hát Allêluia
-      Được trưng bông trên bàn thờ.
-      Chủ tế mặc áo trắng.
20. Thứ năm tuần thánh , Hội Thánh kỷ niệm biến cố gì ?
        Thứ năm tuần thánh kỷ niệm việc Chúa Giêsu dùng bữa cuối cùng với các môn đệ trước khi Ngài bị nộp và chịu chết. Ngài thiết lập bí tích Truyền chức thánh, bí tích Thánh Thể và trao ban giới luật mới yêu thương.

21. Thứ sáu tuần thánh, Hội Thánh kỷ iệm biến cố gì ?
        Thứ sáu tuần thánh, Hội Thánh tưởng niệm cuộc thương khó và tử nạn của Chúa Giêsu trên thánh giá để cứu chuộc toàn thể nhân loại bằng việc cử hành cuộc thương khó của Chúa Giêsu và suy tôn Thánh giá.

22. Khi chiêm ngắm Chúa Giêsu chết trên Thánh giá, chúng ta phải có thái độ nào ?
        - Suy tôn.
        - Cảm mến
        - Tri ân
        - Ngưỡng mộ.

23. Ngày thứ bảy tuần thánh, Giáo hội muốn chúng ta làm gì ?
        Trong ngày thứ bảy tuần thánh, Hội thánh mời gọi các Kitô hữu cùng với Mẹ Maria cầu nguyện bên mồ Chúa, cùng Ngài suy ngắm những đau khổ, sự chết và mai táng của Chúa Giêsu trong niềm hy vọng và tin tưởng, để chuẩn bị tâm hồn bước vào Đêm Canh Thức Phục Sinh – Mừng Chúa Phục Sinh.

24. Mùa Phục Sinh có mấy tuần ?
        Mùa Phục Sinh có 7 tuần, bắt đầu Chúa Nhật I Phục Sinh à Chúa Nhật hiện xuống.

25. Ngày lễ Phục Sinh là ngày lễ gì ?
        Là ngày lễ quan trọng nhất trong năm Phụng vụ, là ngày lễ Mẹ của mọi ngày Chúa nhật, bởi vì Thánh lễ nào cũng đều tưởng niệm và tái diễn công cuộc Vượt Qua của Đức Kitô.

26. Tuần bách nhật Phục Sinh có mấy ngày ?
        Tuần bách nhật Phục Sinh có 8 ngày, kể từ lễ Phục Sinh.

27. Các Chúa Nhật Phục Sinh có được cử hành Thánh lễ an táng, hôn phối hoặc các lễ khác không ?
        Không, vì các Chúa Nhật Phục Sinh chiếm một vị trí ưu tiên trên hết mọi lễ.

28. Trong Mùa Phục Sinh đọc kinh gì thay cho kinh Truyền tin ?
        Đọc kinh “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng”

29. Allêluia có nghĩa là gì ?
        Allêluia có nghĩa là “Hãy ngợi khen Chúa”

30. Hội Thánh dạy mọi tín hữu sau khi rước lễ lần đầu và sau khi đến tuổi khôn phải làm gì trong Mùa Phục Sinh ?
        Buộc phải xưng tội và rước lễ ít nhất là 1 lần trong Mùa Phục Sinh.

Martin Lê Hoàng Vũ

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget