Articles by "Tìm Hiểu Kinh Thánh"

THÁNH NỮ MARIA MA-ĐA-LE-NA
TRONG TIN MỪNG THEO THÁNH LU-CA
Thánh nữ Mairia Ma-đa-lê-na trong Tin Mừng theo Thánh Luca
Tin Mừng theo thánh Mat-thêu chỉ cho ta thấy nhóm phụ nữ đứng đàng xa khi Chúa Giê-su bị treo trên thập giá, và cho biết “các bà đã đi theo Chúa Giê-su từ Ga-li-lê để giúp đỡ Người”. Tin Mừng theo thánh Lu-ca cho chúng ta danh sách các phụ nữ đi theo phục vụ Chúa Giê-su ngay từ chương thứ 8: “Sau đó, Đức Giê-su rảo qua các thành phố làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Cùng đi với Người, có Nhóm Mười Hai, và mấy phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh. Đó là bà Maria gọi là Maria Mac-đa-la, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ, bà Gio-an-na, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hê-rô-đê, bà Su-san-na và nhiều bà khác nữa. Các bà này đã lấy của mình mà giúp đỡ Đức Giê-su và các môn đệ”.
Trong cả ba sách Tin Mừng Nhất Lãm, bà Maria Mac-đa-la luôn đứng đầu danh sách các phụ nữ đi theo giúp đỡ Chúa Giê-su. Mat-thêu không cho biết lai lịch của bà. Lu-ca cho biết bà là người được giải thoát khỏi bảy quỷ. Trong Kinh Thánh thì con số bảy chỉ sự tròn đầy, bảy quỷ tức là toàn bộ quyền lực của quỷ. Ta không biết tình trạng của bà khi bị bảy quỷ hành hạ như thế nào, cũng không biết bà được Chúa cứu trong hoàn cảnh nào. (Mc 16, 9 cũng lặp lại thông tin này trong phần kết.)
Danh sách của Lu-ca theo ngay sau chuyện người đàn bà tội lỗi đến khóc dưới chân Chúa trong nhà ông Si-môn, có lẽ vì thế người ta đã quen đồng hóa hai bà, cho rằng Maria Ma-đa-le-na chính là người đàn bà tội lỗi sám hối kia, hoặc là người đàn bà ngoại tình trongGio-an 8, 1-11. Nhưng trên cơ sở văn bản thì không có gì cho phép đồng hóa. Về phương diện quá trình bản thân, một người bị bảy quỷ hành hạ thì không thể nào trở thành “người phụ nữ tội lỗi nổi tiếng trong thành” (Lc 7, 37) hay người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang (Ga 8, 3). Vậy thì xin cởi bỏ cái áo khoác lãng mạn người ta đã choàng lên cho Maria Mác-đa-la, và đi vào nguồn chính là các sách Tin Mừng, để chiêm ngắm dung nhan người phụ nữ tuyệt vời trong hàng môn đệ, được Hội Thánh tôn kính ngang hàng các vị trong nhóm Mười Hai tông đồ, và học biết những gì Tin mừng nói về ngài thay vì những phóng chiếu lãng mạn của chúng ta. Trong bài này tôi xin trình bày Maria Mađalena trong sách Tin Mừng Lu-ca.
Bản danh sách ở chương thứ 8 của Lu-ca cho thấy nhóm phụ nữ do Maria Mac-đa-la đứng đầu, đã đi theo Chúa Giêsu khi Chúa cùng với nhóm Mười Hai rong ruổi đường trường loan báo Tin Mừng. Nhóm Mười Hai là những người bỏ mọi sự mà đi theo Chúa và được Chúa chọn làm Tông Đồ (Lc 6, 13) để ở với Chúa (Mc 3, 14), còn nhóm phụ nữ thì đem theo của cải mà giúp đỡ Chúa Giê-su và các Tông Đồ. Vậy thì nhóm Mười Hai và nhóm phụ nữ là hai nhóm luôn ở bên cạnh Chúa Giê-su, tuy nhiên suốt cuộc hành trình của Chúa Giê-su ta không thấy các bà xuất hiện lần nào, cho tới khi Chúa bị treo lên thập giá ta mới lại gặp các bà trong tư thế “chứng nhân”: “Đứng đàng xa, có tất cả những người quen biết Đức Giê-su, cũng nhưnhững phụ nữ đã theo Người từ Ga-li-lê; các bà đã chứng kiến những việc ấy” (Lc 23, 49). Bản văn nói đến hai nhóm cùng đứng đàng xa: “tất cả những người quen biết Đức Giê-su” và “những phụ nữ…”, nhưng khi nói về chứng kiến thì chỉ nói đến các bà [bản dịch ở đây theo đúng nguyên văn Hy lạp].
Sau đó, khi ông Giô-xép xin được xác Đức Giê-su, “ông hạ xác Ngài xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ… Cùng đi với ông Giô-xép, có những người phụ nữ đã theo Đức Giê-su từ Ga-li-lê. Các bà để ý nhìn ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. Rồi các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sa-bát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền” (Lc 23, 53-56).
Lu-ca bố trí câu chuyện thật chặt chẽ ở đây: nhóm phụ nữ này chứng kiến cái chết của Chúa Gê-su trên thập giá, chứng kiến khi ông Giô-xép hạ xác Chúa Giê-su từ tên thập giá xuống, lấy vải gai liệm và đặt vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá…Các bà cùng đi với ông tới mộ, để ý nhìn ngôi mộ và xem xác người được đặt như thế nào. Các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sa-bát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền. Như vậy là các bà có mặt và ghi nhận mọi sự cho đến lúc bắt buộc phải nghỉ theo luật. Các bà chuẩn bị dầu và thuốc thơm [sau khi mặt trời lặn ngày sa-bát, là có thể mua sắm]là đã có ý trở lại mộ để ướp xác Chúa, chứ không phải tình cờ kéo nhau đi.“Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn”. Những chi tiết trên còn cho thấy các bà không chờ đợi chuyện gì khác thường, nhưng chỉ làm một chuyện rất đơn giản là đem dầu và thuốc thơm đến ướp xác, vì hôm trước là áp ngày sa-bat, và các bà cũng bị bất ngờ về cái chết của Chúa cũng như về chính việc được lãnh xác để mai tang.
Các bà thực hiện dự tính của mình. Nhưng các bà thấy gì ở mộ? “Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ”. Họ không thể lầm, vì họ đã đi theo ông Giô-xép, đã nhìn xem ngôi mộ và xem xác Người được đặt như thế nào. Họ là một nhóm chứ không phải một người, và mới cách một ngày, không thể nói họ vào lầm một ngôi mộ khác. “Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả”. Lu-ca cho cảm tưởng họ không bị bất ngờ vì thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mồ, thản nhiên bước vào. Chỉ khi không thấy thi hài Chúa Giê-su họ mới phân vân.
“Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông y phục sáng chói, đứng bên họ. Đang lúc các bà sợ hãi cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: Sao các bà lại tìm người sống ở giữa kẻ chết? Người không còn đây nữa nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê… Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói.”
Hai người đan ông y phục sáng chói bỗng xuất hiện ngay bên cạnh họ ở ngay trong mộ. Họ sợ hãi là lẽ đương nhiên. Hai người này là ai? Lu-ca không nói là thiên thần nhưng là hai người. Để hiểu điều này, phải trở lại cảnh Chúa Giê-su tỏ vinh quang (hiển dung) trên núi: “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói lòa. Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Mô-sê và ông Ê-li-a. Hai vị hiện ra rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc Xuất Hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem.” Hai người đàn ông y phục sáng chói, gợi cho ta nhớ tới “hai vị hiện ra rạng ngời vinh hiển”, tức là Mô-sê và Ê-li-a. Hai vị đã đàm đạo với Chúa Giê-su về cuộc Xuất Hành người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem, nay đến xác nhận với các bà rằng Người đã hoàn thành cuộc Xuất Hành: Người không còn đây nữa, Người đã trỗi dậy rồi.
Hai người nói với các bà: “Hãy nhớ lại lời Người đã nói với các bà khi còn ở Ga-li-lê”. Mat-thêu nói trống : “như Người đã nói”; Mac-cô nhắc các môn đệ: “như Người đã nói với các ông”. Lu-ca nói rõ: Người đã nói với các bà khi còn ở Ga-li-lê. Một chi tiết nhỏ để lộ một sự thật lớn. Đọc các sách Tin Mừng khác, chúng ta có cảm tưởng Chúa Giê-su chỉ trực tiếp dạy dỗ các ông môn đệ về cuộc khổ nạn và phục sinh. Lu-ca lại cho thấy các bà cũng đã được trực tiếp nghe Chúa dạy những điều “bí mật”trọng đại, chứ không chỉ nghe các ông nói lại.
“Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói. Khi từ mộ trở về, các bà kể cho nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Mấy bà nói đây là bà Maria Mac-đa-la, bà Gio-an-na và bà Maria, mẹ ông Gia-cô-bê, các bà khác cùng đi với mấy bà này cũng nói với các Tông Đồ như vậy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn nên không tin”.
Hai lần Lu-ca kể rằng Đức Mẹ ghi nhớ mọi điều ấy và suy niệm trong lòng (Lc 2, 19.61). Các nữ môn đệ cũng ghi nhớ những lời Chúa Giê-su đã nói, và chỉ cần “hai người y phục sáng chói” này nhắc một tiếng là các bà nhớ lại. Các Tông Đồ nghe các bà kể thì cho là chuyện vớ vẩn nên không tin, hẳn là vì bộ nhớ của các ông không tốt bằng. Chúa dựng nên người phụ nữ với bộ nhớ đặc biệt. Trong gia đình, cha nhiều khi quên cả sinh nhật của các con, thì mẹ là người ghi nhớ mọi sự. Bộ nhớ này đôi khi cũng gây phiền toái, vì “đàn ông không tha nhưng mà quên, đàn bà tha nhưng mà không quên”. Nhưng nếu dùng để ghi nhớ mọi lời Chúa nói thì mọi sự sẽ êm xuôi. Lạc đề rồi!
Trở lại câu chuyện trong Tin Mừng Lu-ca, sau câu kết luận về thái độ không tin của các Tông Đồ, Lu-ca tiếp tục kể cho chúng ta chuyện ông Phê-rô chạy ra mồ, rồi chuyện hai người môn đệ trên đường Em-mau. Sau khi nhận ra Chúa Giê-su lúc Chúa bẻ bành, hai người từ Em-mau vội vã quay về Giê-ru-sa-lem. Hẳn trong bụng hai ông phải thích thú với ý nghĩ mình là đàn ông, sẽ làm cho các ông khác phải tin. Nhưng khi về tới nơi và gõ cửa, thì các ông khác ở trong nhà vừa mở cửa đã reo lên: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-môn”. Hai chữ thật rồi mang ý nghĩa rất đặc biệt ở đây: “thật rồi” quy chiếu vào chuyện lúc ban sáng các ông không tin lời các bà, vì cho là chuyện vớ vẩn. Bây giờ thì các ông đã tin. Tại sao? Chúa đã hiện ra với ông Si-môn! Trong bữa Tiệc Ly, Chúa đã nói với ông Si-môn: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22, 32). Bây giờ Chúa đã cho ông Phê-rô cơ hội thi hành sứ mạng. Anh em đã tuyên xưng: “Chúa trỗi dậy thật rồi”, vì họ đã nghe ông Phê-rô kể lại việc Chúa Phục Sinh hiện ra với ông.  
Trong việc xác nhận vai trò của ông Phê-rô, Chúa Giê-su cũng xác nhận giá trị lời chứng của các nữ môn đệ, đứng đầu là bà Maria Mac-đa-la. Các ông cho chuyện các bà kể là chuyện vớ vẩn nên không tin. Đó là thái độ “nam trọng, nữ khinh”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một đứa con trai cũng là có, muời đứa con gái cũng là không). Trọng và khinh ở đây không phải là kính trọng và khinh dể, nhưng trọng là nặng, khinh là nhẹ. Trong Kinh Thánh, lời chứng của người phụ nữ không có giá trị trước tòa án, trừ trường hợp sinh đẻ (ta sẽ thấy trong Tin Mừng Gio-an). Việt Nam có câu “đàn bà trông gà hóa quạ”, các Tông Đồ coi lời chứng của các bà là “chuyện vớ vẩn”. Bây giờ nhờ lời chứng của ông Phê-rô, các ông cũng phải nhận là các bà đã nói đúng, chứ không phải chuyện vớ vẩn.
Kết luận: Tin Mừng Lu-ca trình bày rất chi tiết và chặt chẽ việc các phụ nữ đi theo Chúa Giê-su từ Ga-li-lê, đứng đầu là bà Maria Mác-đa-la, đã là những môn đệ đích thật, được nghe Chúa Giê-su dạy dỗ cả những điều bí mật về cuộc Thương Khó và Phục Sinh, ngang hàng các Tông Đồ. Trong khi các Tông Đồ và các môn đệ khác chạy trốn hết, thì các nữ môn đệ chứng kiến cái chết của Chúa Giê-su trên thập giá; chứng kiến ông Giô-xép hạ xác và táng xác, biết ngôi mộ ở đâu, xác Chúa được đặt như thế nào. Các bà chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần các bà ra mộ và được thấy mộ đã mở, được hai người y phục sáng chói cho biết Chúa đã trỗi dậy, và được sứ mạng về báo tin cho các Tông Đồ. Các bà nhớ lại lời Chúa đã nói khi còn ở Ga-li-lê về cái chết và sự phục sinh của Chúa.
Các Tông Đồ vẫn giữ não trạng cổ truyền, coi lời các bà kể là chuyện vớ vẩn. Nhưng khi thánh Phê-rô làm cho anh em vững mạnh, thì cũng đồng thời xác nhận rằng về phương diện làm chứng cho Chúa Giê-su, lời chứng của các nữ môn đệ cũng ngang hàng lời chứng của các ông môn đệ và các Tông Đồ, và còn hơn thế nữa: các nữ môn đệ là những người đầu tiên đã nhớ lại những lời Chúa nói khi còn ở Ga-li-lê, đã gặp Chúa Phục Sinh, và nhận được sứ mạng đem Tin Mừng cho các Tông Đồ.  
Giê-ru-sa-lem 18/6/2016
Lm. Giu-se Nguyễn công Đoan, S.J.
Nguồn: dongten.net

Ngụy thư
Thuật ngữ ngụy thư có nghĩa là “che giấu, không rõ ràng”. Nó được sử dụng để mô tả các tác phẩm đã được chấp nhận như là một phần của quy điển Cựu Ước.  Một số trong những cuốn sách thuộc Ngụy thư là việc bổ sung các sách hiện có, như Ét-ra, Ét-te và Đa-ni-en. Một số là những câu chuyện hoàn toàn độc lập và lịch sử, chẳng hạn như những cuốn sách của Ma-ca-bê, Tô-bi-a, Susanna, và Judith. Bởi vì chúng bao gồm trong bản Bảy Mươi, bản dịch Kinh Thánh bằng tiếng Hy Lạp, các Giáo Hội Kitô giáo tiên khởi tính đến chúng trong phiên bản Cựu Ước của họ. Sau khi đền thờ bị phá hủy năm 70 sau Công nguyên, các học giả Do Thái đã quan tâm đến việc ủng hộ người Do Thái và không chấp nhận những cuốn sách không được viết bằng tiếng Do Thái. Họ chọn lựa để loại trừ những cuốn sách chỉ có trong bản dịch Hy Lạp, bằng cách chỉ dành sử dụng cho vấn đề khai trí, nhưng không xem xét thẩm quyền của họ. Trong số những người Kitô hữu chấp nhận bản Bảy Mươi là có thẩm quyền, các cuốn sách này tiếp tục được tính đến trong bản sao của Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. Các nhà lãnh đạo của Cải Cách Tin Lành và Calvin đặc biệt phản đối sự hòa nhập của họ; Luther và Anh giáo thừa nhận họ chỉ cho sự khai trí riêng tư. Các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương vẫn tiếp tục đề cập đến chúng.
Tân Ước cũng có những tác phẩm thuộc ngụy thư. Có một số bản Phúc âm cuối và những câu chuyện của các môn đệ kể rằng Giáo hội sơ khai dường như kém niềm tin cậy hơn so với những người trong kinh sĩ. Trong số các tác phẩm ngụy thư chính trong nhóm này là các sách Phúc âm của Maria Mađalêna, Tôma, Nicôđêmô, và Giacôbê; và sách Công vụ của Phêrô, Gioan, Anrê, Tôma, và Phaolô.
Vào năm 1945, những khám phá của thư viện tại Nag Hammadi đã làm sôi nổi cuộc tranh cãi này về tính xác thực của nhiều sách Phúc Âm ngoài Kinh Thánh và khuấy động cuộc tranh luận thần học đáng kể. Trong những năm gần đây, cái gọi là “ngộ đạo phúc âm “đã nhận được sự chú ý đáng kể của các học giả, một số người nhấn mạnh rằng họ đưa ra những hiểu biết sâu sắc đương thời vào trong đời sống và lời nói của Đức Giêsu và những người xung quanh Ngài.
Đó là, như trong sách Công Vụ của Thánh Phaolô mà chúng ta đã được kể: Phaolô là người “có dáng vóc nhỏ bé với một cái đầu hói và chân cong. . . lông mày gặp nhau và một cái mũi hơi khoằm” (Bruce Metzger năm 1993, 40). Những câu chuyện thời thơ ấu của Đức Giêsu, những lời nói và hành động của Ngài dường như ở ngoài với tính cách của Đức Giêsu đã được trình bày trong bốn Phúc Âm truyền thống. Với những khám phá của một danh sách liệt kê ngày càng tăng những việc làm ngộ đạo, những cuốn sách “không rõ ràng”, và những buổi tường thuật “kín đáo”, cơn thịnh nộ đối với những tác phẩm thuộc ngụy thư vẫn tiếp tục. Chúng nuôi dưỡng con người tự nhiên sự khao khát những câu trả lời rõ ràng cho các câu hỏi còn mở ngỏ bởi chính lục Kinh Thánh.
Sr. Maria Ngô Liên chuyển ngữ
Đọc thêm:
– Birdsall, J. N. “Apocrypha,” in The Illustrated Bible Dictionary. Sydney,Australia: Tyndale House Publishers, 1980.
– Jenkins, Philip. Hidden Gospels: How the Search for Jesus Lost Its Way. New York:OxfordUniversity Press, 2001.
– Metzger, Bruce. “Aprypha,” in The Oxford Companion to the Bible. New
York:OxfordUniversityPress, 1993.
– Miller, Robert J., ed. The Complete Gospels. San Francisco: Harper Collins   Publisher, 1992.
Trích dịch tác phẩm “All Things in the Bible” của tác giả Nancy M. Tischler

Bữa tiệc ly
(Mt 26,26-29; Mc 14, 22-25; Lc 22,15-20; 1Cr 11,17-34)
Bữa ăn cuối cùng Đức Kitô đã ăn với các môn đệ, vào đêm trước ngày Người bị bắt, bị xét xử, và bị đóng đinh, thường được gọi là “Bữa Tiệc Ly”. Có nhiều tường thuật khác nhau về bữa ăn vào ngày thứ Năm, mặc dù có một số cuộc tranh cãi về ngày thực của bữa ăn. Đó là buổi cử hành các nghi lễ của người Do Thái về Lễ Vượt Qua – Lễ Bánh Không Men. Trong việc kỷ niệm sự giải cứu của Thiên Chúa đối với dân Ngài khỏi sự trói buộc ở Ai Cập, người Do Thái ăn bánh không men và giết chết con chiên vượt qua trong việc cử hành nghi lễ này. Việc mở rộng truyền thống bữa ăn của người Do Thái là bẻ và phân phát bánh, đi kèm với một lời cầu nguyện tạ ơn và uống rượu (I. Howard Marshall, 1993, 466).
Đó là vào bữa ăn tối này trong “Phòng Tiệc Ly” mà Đức Giêsu đã giải thích tầm quan trọng của tấm bánh và chén, tấm bánh như một biểu tượng thân thể của Người được trao ban, chén là biểu tượng máu của Người. Người cũng nói với các môn đệ rằng đây là bữa ăn cuối cùng Người chia sẻ với họ. Trong những Lời của Người, Người nhắc đến việc đến lần thứ hai của Người, khi Đấng Mê-si-a sẽ trở lại cử hành một thời kỳ mới với các môn đệ (Mt 8,11). Và Người tuyên bố rằng một trong các môn đệ của Người sẽ phản bội Người, rõ ràng Người hàm ý kết tội Giuđa, người đã nhanh chóng rời khỏi phòng tiệc. Các tác giả Tin Mừng có sự khác nhau đôi chút, nhưng không đáng kể, trong việc nói về sự kiện này. Đó là một cơ sở rõ ràng về Giao ước mới, thay thế Giao Ước cũ với Môisê và Ít-ra-en.
Niềm tin và thực hành Kitô giáo
Trong Kitô giáo, Bữa Tiệc Ly đã trở thành cơ sở cho bí tích về Bữa Tiệc của Chúa, nó cũng được nhận biết trong các nhà thờ riêng biệt như Thánh Lễ, Rước lễ, và Thánh Thể. (Theo tiếng Hy lạp, thuật ngữ Eucharistia có nghĩa là “lòng biết ơn”. Thuật ngữ mass có thể xuất phát từ missa, dạng rút gọn của một phúc lành và được sai vào thế giới lúc kết thúc phụng vụ). Trong thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Cô-rin-tô (1Cr 11,17-34), vị tông đồ lưu ý rằng điều ngài đã “nhận được từ nơi Chúa”, ngài truyền lại cho những người theo ngài để họ cùng chia sẻ bánh và rượu, biểu hiện thân thể của Đức Kitô bị bẻ ra cho chúng ta và máu của Người đổ ra để chuộc tội lỗi chúng ta. Thánh Phaolô nói rõ ràng rằng đây là một hành động thường xuyên, không phải là một bữa tiệc nhưng là một sự “tưởng nhớ”. Thánh nhân điều chỉnh Giáo đoàn Cô-rin-tô, ở đó, dường như dân chúng xem các bữa ăn như một cơ hội ăn uống thoải mái, với các thành viên giàu có hơn từ chối chia sẻ quà tặng của họ với các anh chị em nghèo.
Trong những năm qua, điều này đã dẫn đến những diễn giải khác nhau, Giáo hội Công giáo Rôma giữ ý tưởng về sự Biến đổi, với niềm tin rằng bánh và rượu được biến đổi thành Mình và Máu thật Đức Kitô – khái niệm về “sự hiện diện thật” (một phần, điều này này dựa trên sự biến đổi nước thành rượu ngon tại tiệc cưới tại Cana). Giáo lý này đã được phát triển đầy đủ vào thế kỷ thứ mười hai, cuối cùng đã được thánh Tôma Aquinô xác định rõ trong thế kỷ XIII. Đối với các tín đồ của phái Luther và các giáo phái khác một phần nào khác nhau khái niệm về thuyết đồng bản tính, mô tả mầu nhiệm sự hiện diện của Đức Kitô là một điều kỳ diệu, nhưng không thể lý, không thay đổi trong các yếu tố. (Luther so sánh điều này với mầu nhiệm Nhập Thể). Như Luther, nhà thần học Calvin, tin rằng Chúa Kitô “thực sự đã được trao ban và được lãnh nhận” trong bí tích, ông nhấn mạnh mối liên hệ với Mầu Nhiệm Nhập thể, nhưng ông đã không chấp nhận ý tưởng của sự thay đổi kỳ diệu trong các nhân tố.
Đối với hầu hết các tín hữu Tin Lành, bí tích là một hành động tượng trưng, đại diện nhưng không thay thế sự hiến tế. Đó là một hành động của việc tưởng nhớ và là một dịp để cầu nguyện và tìm kiếm linh hồn. Trong mọi trường hợp, bí tích này được coi là một bí tích của Giáo hội phổ quát, liên kết Thân Thể Đức Kitô, Giáo hội, với những tín hữu khác và với chính Đức Kitô.
Các thực hành phụng vụ cũng khác nhau từ một tên khác. Nó có thể xảy ra ở những địa điểm khác nhau trong việc phụng vụ, với khoảng thời gian khác nhau, hàng tuần, một số nhà thờ có sự hiệp thông, một số hạn chế chỉ nhiều lần trong một năm. Ngoài ra, một số nhà thờ thực hành “khép lại sự hiệp thông” và một số nhà thờ “mở rộng sự hiệp thông”, tùy thuộc vào việc chỉ các thành viên được mời gọi hiệp thông, hoặc nếu nó được mở ra cho bất kỳ ai tuyên xưng niềm tin.
Bữa Tiệc của Chúa trong Nghệ thuật
Bữa Tiệc của Chúa là một sự kiện rất quan trọng trong cuộc đời của Đức Kitô và là một hình ảnh rất mạnh mẽ trong những ngày cuối cùng của Người trên trần gian, điều này đã truyền cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ Kitô giáo. Các nhà thờ chính tòa thời trung cổ thường có những bức chân dung các cảnh tượng về bữa tiệc trong lăng kính của họ. Hình ảnh độc ác của Giuđa bên cạnh thái độ từ bi nhân từ của Đức Giêsu mời người xem nhìn vào mối đe dọa sự phản bội còn ẩn giấu. Các môn đệ khác đã được trình bày trong các nhóm hoặc cứng nhắc ở vị trí phía trước, đôi khi họ cười và nói chuyện với nhau, đôi khi thật trang nghiêm. Các bức bích họa khác nhau thường dùng trang trí tường hoặc trần nhà trong những nhà thờ lớn. Bức tranh của Leonardo da Vinci Milan nổi tiếng nhất trong số này. Rất nhiều các bậc thầy thời Phục hưng miêu tả các Môn đệ tụ tập quanh bàn, với Đức Kitô ở trung tâm. Con người thời hiện đại đã tiếp tục truyền thống. Bức họa khơi lên sự  tò mò, khi ngày càng nổi tiếng hơn qua việc mô tả một bàn tiệc tiêu chuẩn chứ không phải là phòng ăn lịch sử đúng cấu trúc phòng ăn giường ba mặt, nơi khách sẽ ngả dựa trên một khuỷu tay và với lấy thực phẩm của họ bằng tay kia.
Các chủ đề cũng là một phần tiêu chuẩn của các vở kịch bí ẩn thời trung cổ, những chu kỳ các vở kịch đó kể về câu chuyện của Kinh Thánh từ Sáng tạo cho đến việc Chúa trở lại lần thứ hai. Ở Anh, vở kịch Corpus Christi của thế kỷ thứ mười bốn và thế kỷ mười lăm miêu tả Bữa Tiệc Ly ở dạng kịch tính (ví dụ, Coventry và York). Phần lớn bài thơ tiếng Anh nói về mầu nhiệm Thánh Thể như đã thực hành trong Giáo hội Anh. Những bài thơ và bài ​​thánh ca của Isaac Watts thường xuyên trỗi vượt các yếu tố thiêng liêng. Một trong các bài thuyết trình ấn tượng nhất của các học thuyết xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết Sức Mạnh và Vinh Quang của Graham Greene. Greene, một tiểu thuyết gia Công giáo La Mã thế kỷ 20, thể hiện sự hiệu quả của bí tích, ngay cả khi bí tích được thực hiện bởi một linh mục thoái hóa.
Trong âm nhạc, Bữa Tiệc Ly của Chúa đã truyền cảm hứng cho rất nhiều lễ cầu hồn của Bach, Andrew Lloyd Weber, Handel, v.v (David Jeffrey và I. Howard Marshall năm 1992, 249). Trong biểu tượng phong phú của Bữa Tiệc của Chúa, kết hợp với lịch sử lâu dài của dân Chúa, bữa ăn tối cuối cùng của Đức Giêsu với các bạn của Người đã trở thành một trong những bí tích mạnh mẽ nhất của Giáo hội Kitô giáo.
Đọc thêm:
– Jeffrey, David L. and I. Howard Marshall. “Eucharist”, in A Dictionary of the Biblical Tradition in English Literature. Grand Rapids, Mich.: William B. Eerdmans Publishing Company, 1992.
– Marshall, I. Howard. “Lord’s Supper”, in The Oxford Companion to the Bible. New York: Oxford University Press, 1993.
– Mershman, Francis. “The Last Supper”, http://www.newadvent.org (accessed January 2, 2005).
 Sr. Maria Ngô Liên
Trích dịch trong tác phẩm “All Things in the Bible”, tác giả Nancy M. Tischler

Cách giao tiếp của Chúa Thánh Thần
Hiểu biết về Ngôi Ba Thiên Chúa là điều quan trọng đối với đời sống Kitô hữu. Vấn đề chủ yếu là giao tiếp. Đây là 10 cách Chúa Thánh Thần nói với chúng ta:
1. Bình an. Thánh Phaolô nói: “Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em, vì trong một thân thể duy nhất, anh em đã được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó. Bởi vậy, anh em hãy hết dạ tri ân” (Cl 3:15). Chúng ta thấy rằng sự bình an tác động như người trọng tài đối với sự quyết định của chúng ta. An tâm hoặc không an tâm về điều gì đó là cách Chúa Thánh Thần hướng dẫn chúng ta tới bước kế tiếp.
2. Củng cố. Chúa Thánh Thần ban ơn củng cố khi chúng ta sống theo Ý Chúa. Đó là cách Ngài động viên chúng ta trên bước đường lữ hành trần gian.
3. Hình ảnh. Một số người trong chúng ta chỉ là những người sống theo thị giác, và Chúa Thánh Thần biết điều này. Ngài sẽ dùng hình ảnh để chúng ta biết chú ý tâm linh về điều gì đó.
4. Lương tâm. Nếu bạn đã từng nghe được tiếng nói trong lòng, cảm nhận điều gì đó cảnh báo trong lòng hoặc cảm thấy nên dừng lại ngay, đó là cách Chúa Thánh Thần báo động chúng ta trước một tình huống có thể khiến chúng ta xa cách Thiên Chúa. Ngài cũng dùng cách này để phát triển chúng ta về ơn hiểu biết.
5. Sự kiện. Chúng ta thường nói: “Cái gì cũng có chỗ của nó”. Đó là chúng ta để cho Chúa Thánh Thần chỉ huy chúng ta. Điều này xảy ra khi chúng ta xin được biết Ý Chúa. Chuỗi sự kiện xảy ra là cách Ngài cho chúng ta biết.
6. Tôn thờ. Tôn thờ là phương cách mạnh mẽ trong việc giao tiếp với Chúa Thánh Thần. Khi chúng ta để cho tinh thần hoàn toàn nối kết với Chúa Thánh Thần thì điều kỳ diệu có thể xảy ra.
7. Cầu nguyện. Thường xuyên dành thời gian cầu nguyện là cách đối thoại với Chúa Thánh Thần về cuộc đời chúng ta và biết được kế hoạch của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
8. Lắng nghe. Đó là điều chính đáng và cần thiết. Ngay khi thức giấc, chúng ta phải biết hướng về Thiên Chúa: “Vâng, lạy Chúa, chính Ngài là Đấng con van vỉ, ngay từ sớm, Ngài đã nghe tiếng con. Ngay từ sớm, con tỏ bày ước nguyện, rồi chăm chú đợi trông” (Tv 5:4). Hằng ngày, mọi người đều có Lời Chúa chờ đợi mình, thật hạnh phúc nếu biết lắng nghe, nhưng lại thật bất hạnh nếu không biết lắng nghe!
9. Ghi nhớ. Đôi khi Chúa Thánh Thần đem đến một sự kiện, một con người hoặc một tình huống để chúng ta ghi nhớ. Trong một số trường hợp có thể là sự cản trở bạn kết hiệp với Thiên Chúa. Chẳng hạn như sự không tha thứ, nỗi đau thương (thể lý hoặc tinh thần), sự xúc phạm nào đó,… Đó là những ví dụ cụ thể.
10. Kinh Thánh. Chúa Thánh Thần không bao giờ mâu thuẫn với Lời Chúa. Hãy đọc Kinh Thánh để biết những gì bạn nghe và tin nhận Ngài.
TRẦM THIÊN THU(Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

Sự dữ
Chúng ta thường hình dung sự thiện buộc tội sự dữ, sự dữ buộc tội sự thiện. Chúng ta thường nghĩ một cách tự phát rằng người công chính và người tội lỗi buộc tội lẫn nhau[1]. Hơn thế nữa, chúng ta còn duy trì hình ảnh về một Thiên Chúa, Đấng Công Chính tuyệt đối, buộc tội con người vốn “tội lỗi bẩm sinh”.
Đọc Kinh Thánh và nhất là đến học ở “Trường Lời Chúa”, chúng ta sẽ được chữa lành khỏi những kiểu hình dung dễ dãi như thế, khỏi tính tự phát máy móc và bất di dịch của chúng ; thay vào đó, chúng ta sẽ nhận được những ánh sáng mới, phát sinh chầm chậm, nhưng thật cụ thể và đầy sức sống.
I. Buộc tội và Sự Dữ
Thay vì sự thiện và sự dữ buộc tội lẫn nhau, thì chính hành vi buộc tội là một điều dữ. Miệng khô đi vì buộc tội liên tục, điều đó không phù hợp với sự thiện. Sự thiện thể hiện mình bằng cách đi qua hành vi buộc tội, chắc chắn là điều không thể tránh khỏi; và trong Kinh Thánh, không thiếu những bản luận tội thốt ra từ miệng các ngôn sứ, các tác giả Thánh Vịnh và cả Đức Giêsu nữa. Nhưng đó không phải là chỗ đứng đích thực của sự thiện, không phải là chỗ đứng sau cùng của sự thiện.
Ngược lại, chỗ của kẻ buộc tội rốt cuộc được dựng lên là để cho sự dữ đứng vào. Chúng ta nói “rốt cuộc” vì chính trong sách Khải Huyền, sách cuối cùng của bộ Kinh Thánh, mà chúng ta đọc được những lời sau đây :
Vì kẻ tố cáo anh em của ta,
ngày đêm tố cáo họ trước tòa Thiên Chúa,
nay bị tống ra ngoài. (Kh 12, 10).
Thế mà, một cách rất chắc chắn, “Kẻ Tố Cáo” là một tên gọi được thêm vào những tên gọi có sẵn của Satan :
Con Rồng khổng lồ bị tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỷ hay Xa-tan, tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ ; nó bị tống xuống đất, và các thiên thần của nó cũng bị tống xuống với nó. Và tôi nghe có tiếng hô to trên trời : “Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ, giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền, và Đức Ki-tô của Người giờ đây cũng biểu dương quyền bính, vì kẻ tố cáo anh em của ta, ngày đêm tố cáo họ trước toà Thiên Chúa, nay bị tống ra ngoài.” (Kh 12, 9-10)
Cách gọi này có nguồn gốc xa xưa hơn. Thật vậy, trong một thị kiến được ban cho ngôn sứ Dacaria, vị thượng tế đứng trước thiên thần của Đức Chúa,
Còn Xa-tan đứng bên phải ông để tố cáo ông. (Dcr 3, 1).
Trong phần dẫn nhập của sách Ông Gióp, chúng ta thấy Satan đối đầu với Thiên Chúa và đảm nhiệm chức năng của người buộc tội. Thiên Chúa tin tưởng nơi sự tốt lành của ông Gióp (Gi 1, 8), nhưng Satan lại nghi ngờ ông. Đã bao nhiêu lần, chính chúng ta đã tưởng tượng ra một Thiên Chúa hay ngờ vực ! Ở đây, người ngờ vực không phải là Thiên Chúa, nhưng là Satan. Nếu chúng ta tưởng tượng ra một Thiên Chúa ngờ vực, đó chính là vì chúng ta ngờ vực. Satan không thể tin vào sự thiện, bởi vì nó buộc tội ông Gióp trước khi ông nói được điều gì : “Ngài cứ thử giơ tay đánh vào mọi tài sản của nó xem, chắc chắn là nó nguyền rủa Ngài thẳng mặt” (Gi 1, 11 ; 2, 6).
Và Satan vẫn lập lại lời buộc tội, ngay cả khi các sự kiện diễn ra sau đó chứng tỏ rằng nó đã lầm. Điều này cho thấy rằng sự dữ ở trong nó, chứ không phải ở nơi người mà nó tố cáo[2].
Chỗ đứng của người buộc tội rốt cuộc thuộc về sự dữ, bởi vì rốt cuộc đó là chỗ của kẻ thua cuộc và chính vì thế mà buộc tội là hành vi rất nguy hiểm. Người buộc tội chẳng mấy chốc sẽ cho thấy tội lỗi của riêng mình (x. Ga 8, 1-11). Hẳn là có đôi lúc, người ta nên buộc tội còn hơn là giữ thinh lặng, nhất là khi người ta có lý do và vì đó buông mình trong cơn nóng giận, nhưng để rồi “sau cơn mưa trời lại sáng”. Nhưng lựa chọn do chiều hướng tự nhiên chỗ đứng của người buộc tội, chính là chọn lựa đi vào cái bẫy được giăng ra cho kẻ xấu.
Tất cả những gì vừa được trình bày ở trên một cách thật rõ ràng đến từ chính sách Thánh Vịnh.
II. Thánh Vịnh và Kẻ Tố Cáo
Các Thánh Vịnh biết rõ Kẻ Tố Cáo mà chúng ta vừa nói ở trên. Trước hết, các Thánh Vịnh biết đến những kẻ tố cáo hữu hình, bởi vì các tác giả Thánh Vịnh là nạn nhân của những vụ án triền miên :
Bởi vì kẻ gian ngoa độc dữ mở miệng nhằm hại con,
nói với con toàn lời dối trá,
buông lời hằn học bủa vây con, tấn công con vô cớ. (Tv 109, 2-3).
Nhưng kẻ tố cáo hữu hình này rất giống với Kẻ Tố Cáo vốn đứng ra chống lại ông Gióp và vị thượng tế của Dacaria. Thực vậy, những kẻ xấu nói chống lại những người ngay như sau :
Xin cho kẻ dữ nổi lên chống nó,
bên phải nó, đặt một người cáo tội đứng kèm.
Ước gì nó phải mang án khi ra khỏi cửa công,
và lời xin ân xá thành lời buộc tội. (Tv 109, 6-7)
Và tác giả Thánh Vịnh đã hình dung ra sự thất bại của kẻ buộc tội mình như là hậu quả của những lời mà chính kẻ này đã thốt ra :
Nó đã lấy lời nguyền rủa làm như áo mặc,
thì cho lời nguyền rủa thấm vào thân nó :
như nước thấm ruột gan, như dầu vào xương tuỷ.
Ước chi lời nguyền rủa như áo choàng quấn chặt lấy nó,
như đai lưng thắt mãi không rời ! (Tv 109, 18-19)
Những lời này phù hợp với quan niệm rất phổ biến trong các Thánh Vịnh và trong toàn bộ Kinh Thánh : sự dữ bị hủy diệt bởi chính nó; và nhờ vậy mà người ta nhận ra đó là sự dữ :
Nó đào hầm đào hố,
chính nó lại sa chân. (Tv 7, 16 ; cf. 9, 16)
Phường ác nhân tuốt gươm giương nỏ
nhằm hạ kẻ nghèo hèn, và giết người chính trực ;
nhưng gươm chúng lại đâm vào tim chúng, và nỏ gẫy tan tành. (Tv 37, 14-15)
Có thể nói, dụng cụ thông thường để hủy diệt sự dữ bởi chính sự dữ, chính là cái miệng ; cái miệng như là cái hố sẽ nuốt trửng chính kẻ đã muốn mở nó ra. Đó cũng là cái lưỡi ; cái lưỡi như là lưỡi gươm sẽ đâm thâu chính kẻ đã muốn hãm hại người khác bằng loại gươm này :
Tấc lưỡi mình hại mình là thế !
Thiên hạ xem, ai cũng lắc đầu. (Tv 64, 9)
Lời thóa mạ như là cục đá, sẽ quay lại rớt trên chính những người đã ném nó đi :
Xin đừng để bọn vây hãm con ngẩng đầu lên được ;
xin cho điều độc ác miệng chúng thốt ra
bao phủ lên người chúng ! (Tv 140, 10)
III. Sự dữ và Lề Luật
Chúng ta hãy dừng lại để đón nhận mặc khải của Kinh Thánh liên quan đến sự dữ và ơn cứu độ ; và đây là những điều quan trọng nhất. Khi suy nghĩ về sự dữ, hoặc là chúng ta bị chóng mặt vì được dẫn tới bờ vực sâu thẳm, hoặc là chúng ta đứng ở quá xa bờ vực đến độ chỉ thấy được bề mặt mà thôi. Các bản văn của Tân Ước đã không sợ vực thẳm và đặc biệt, thánh Phaolô thường hay dẫn chúng ta đến đó. Và để đỡ bị chóng mặt, chúng ta có thể đi những nẻo đường của Cực Ước để soi sáng các bản văn khó nhất của Tân Ước[3].
1. Sự dữ sử dụng Lề Luật
Theo thánh Phaolô, Satan đã dùng Lề Luật như là dụng cụ để buộc tội trước mặt Thiên Chúa, nhằm hủy diệt con người : “Thực vậy, khi chúng ta còn ở trong xác thịt, các đam mê tội lỗi dùng Lề Luật mà hoạt động nơi các chi thể chúng ta, để chúng ta sinh hoa kết quả cho sự chết” (Rm 7, 5). Và đó chính là một trong những suy tư chính yếu của thư gởi tín hữu Roma : “Nhưng chính tội, để cho nó bị phơi bày ra như là tội, nó đã dùng điều tốt để gây nên cái chết cho tôi.” (Rm 7, 13)
Những lời trên đây quả là khó hiểu, nhưng lại phù hợp với những lời của sách Khải Huyềnmà chúng ta đã trích dẫn ở phần trên ; và những lời này cho chúng ta biết rằng Satan có một chỗ đứng ở tòa án xét xử. Satan nhân danh Lề Luật công bố danh sách tất cả các lầm lỗi của con người và yêu cầu án tử dành cho con người. Như tác giả sách Khải Huyền, thánh Phaolô cũng đón nhận một mặc khải đã được ban từ rất xa xưa: Satan đã dùng Lề Luật (x. St 3) ; nóđã dùng một điều tốt ; nó phải là như thế, bởi lẽ, với tư cách là tội, nó là kẻ gian dối. Làm điều xấu với một điều tốt, đó chính là định nghĩa thật cô đọng về sự dữ. Do đó, Satan đã sử dụng Lề Luật để cho thật rõ ràng rằng nó là tội, để nó lộ ra là tội.
Trong cuộc sống, hầu như hằng ngày chúng ta nghe đến chán chê qua báo chí, các bài diễn văn hay các bài giảng, vô vàn những lời lên án mọi lỗi lầm của người khác, của xã hội và thậm chí của cả loài người! Đó không phải là “sử dụng điều tốt” nhằm làm bật ra sự bất lực của mình trong việc làm phát sinh những hoa trái tốt đẹp hay sao? Và phải chăng Luật được lập ra với chức năng chính yếu là được dùng để rình mò, tố cáo và kết án ? Lời Kinh Thánh thật khó nghe, những sẽ giải thoát chúng ta khỏi ngõ cụt, nếu chúng ta biết thinh lặng lắng nghe.
2. Sự dữ và Thập Giá Đức Kitô
Gian dối là thứ tội dựa vào vẻ bề ngoài : nó tách biệt vẻ bề ngoài ra khỏi sự thực ; nó tách chữ viết của Lề Luật ra khỏi tinh thần của Lề Luật để sử dụng Lề Luật cho sự dữ (x. 2 Cr 3, 6).
Gian dối được hiểu như trên, giúp chúng ta nhận ra cách hành xử của Satan trong lịch sử loài người, vốn hội tụ nơi Thập Giá của Đức Kitô và bị làm cho phải lộ nguyên hình. Thật vậy, nơi Thập Giá, Satan đem lại cho ý muốn hủy diệt của nó vẻ bề ngoài công chính của Lề Luật. Tất cả những ai đi với Satan đều làm như thế. Satan phô bày hình dạng bên ngoài hay tính khả giác của sự thiện. Tôi tớ của Satan cũng làm như thế.
Satan sẽ rơi vào chính cái bẫy của nó. Thật vậy, Thiên Chúa mang lại cho sự thánh thiện của thân thể Đức Kitô vẻ bề ngoài của sự bất chính, bởi vì thân thể thánh thiện này sẽ giống như thân thể của một người bị chết phơi thây vì sự bất chính của mình, như là một tội nhân chết trên giá treo cổ, nơi của “công lý”, vốn thu hút loài người chúng ta ; bởi vì tội và sự tan nát thể xác đi đôi với nhau. Đó chính là nơi hẹn gặp mà các Thánh Vịnh nêu ra một cách thật rõ ràng.
Vẻ bề ngoài tương ứng với vẻ bề ngoài : một bên là vẻ bề ngoài công chính nơi Satan, còn bên kia là vẻ bề ngoài bất chính nơi Đức Giêsu, người bị lên án chết. Vì Thiên Chúa làm cho Con của Ngài xuất hiện : “Giống như thân xác tội lỗi” (Rm 8, 3) : “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5, 21). Thực vậy, Đức Kitô đã cứu chúng ta bằng cách :
Chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép : “Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ!” (Gl 3, 13)
Satan ở vào chỗ của Kẻ Tố Cáo, Thiên Chúa nơi Con của Ngài là Đức Giêsu-Kitô, ở vào chỗ của người bị cáo. Satan ở vào chỗ của công lý, bởi lẽ nó sử dụng vặn vẹo Lề Luật, vốn là điều tốt đẹp, đúng đắn và thánh thiện (x. Rm 7, 12), và Thiên Chúa ở vào chỗ của tội lỗi, bởi lẽ khi sai Con của mình đến, Thiên Chúa đã đồng hóa Ngài với tội (x. Rm 8, 3). Vậy là vẻ bề ngoài tương ứng với vẻ bề ngoài, nhưng vấn đề ở đây là nhìn thấy hơn là suy luận : nơi Đức Giêsu, chúng ta hãy nhìn ra Đấng, tương hợp hoàn toàn với một bệnh nhân bị lên án, và với một tội nhân bị xử phạt.
*  *  *
Tại sao và làm thế nào cái nhìn có thể cứu được ? Thánh Gioan nhắc lại chuyện rắn độc cắn dân chúng trong thời gian ở sa mạc (Ga 3, 14). Môsê khi đó đã treo một con rắn lên cột gỗ và ai nhìn lên nguyên nhân gây ra cái chết được phô bày ra đó, thì được chữa lành.
Loài người chúng ta bị bệnh bởi những vẻ bề ngoài, bởi những gian dối công chính, bởi những hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa, bởi sự thánh thiện hay bác ái ảo tưởng ; khi chúng ta nhìn thấy tất cả những vẻ bề ngoài này bị dập tắt và chết đi trên Thập Giá của Đức Kitô, đó chính là điều chữa lành chúng ta và trả lại cho chúng ta cái nhìn lành mạnh. Hình dạng thật sự của Sự Dữ được phô bày ra trên vẻ bề ngoài nát tan của Sự Thiện chữa lành chúng ta.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc
—————–
[1] Các chuyện cổ tích, tiểu thuyết hay phim chuyện thường được xây dựng trên lối suy nghĩ này.
[2] Không tin người khác có thể làm được điều tốt khi không có mình hay khi mình không có mặt, điều này không hiếm thấy nơi cách ứng xử của chúng ta, nhất là nơi các “đấng bậc”, các “nhà huấn luyện” tự cho mình là nghiêm túc. Tuy nhiên, Kinh Thánh mặc khải cho chúng ta rằng thái độ này có liên quan đến một trong những cách ứng xử căn bản của Satan!
[3] Các bản văn khó nhất của Tân Ước có lẽ là các bản văn của thánh Phaolô. Thực vậy, chính thánh Phêrô cũng phải nhìn nhận: “Và anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn chính là để anh em được cứu độ, như ông Phao-lô, người anh em thân mến của chúng ta, đã viết cho anh em, theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ông. Ông cũng nói như vậy trong tất cả các thư của ông, khi bàn đến các vấn đề này. Trong các thư ấy, có những chỗ khó hiểu; những chỗ ấy cũng như những chỗ khác trong Kinh Thánh, bị những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc, khiến chúng phải chuốc lấy hoạ diệt vong” (2 Pr 3, 15-16).

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget