Articles by "Sức Khỏe Và Đời Sống"

Dấu hiệu trầm cảm, dau hieu tram cam
Cuộc sống có nhiều điều khiến chúng ta lo lắng, thậm chí là sợ hãi. Trầm cảm có thể xảy ra với bất kỳ ai – già, trẻ, nam, nữ. Và chuyện gì xảy ra? Tích tiểu thành đại, lỗ nhỏ làm đắm thuyền. Nỗi lo chồng lên nỗi sợ, mà sức người có hạn, như hệ lụy tất yếu, những người “yếu bóng vía” sẽ trở nên tiêu cực, tình trạng mà người ta gọi là trầm cảm.
Trầm cảm làm căng thẳng tình bạn, thậm chí còn tạo khoảng cách giữa những người bạn thân nhất. Đây là vài dấu hiệu khả dĩ cho thấy ai đó đang chịu đựng sự trầm cảm.
1. DÁNG VẺ TIÊU CỰC
Chu kỳ tiêu cực cứ lặp đi lặp lại có thể là “tiếng kêu cứu” về sự trầm cảm. Nếu nhiều lần bạn đã cố gắng làm họ vui mà không được thì chắc chắn người đó đang bị trầm cảm.
2. LUÔN SỐNG KHÉP KÍN
Sống xa cách người thân và bạn bè là dấu hiệu trầm cảm đang âm ỉ trong người nào đó, vì họ đang chịu đựng âm thầm mà không nói ra. Nếu bạn thấy tình trạng này, đừng làm ngơ hoặc có những động thái khiến họ mặc cảm. Hãy hỏi han để tỏ ra quan tâm và để xem họ có vấn đề gì nghiêm trọng.
3. KHÔNG HĂNG HÁI
Khi người nào đó không muốn làm những gì họ thường yêu thích, đó là họ đã mất nhiệt huyết vui sống, có thể họ đang bắt đầu chịu đựng sự trầm cảm.
4. TÍNH KHÍ THẤT THƯỜNG
Tính khí thất thường là cách tránh né hoặc giấu giếm cảm xúc. Hãy giúp họ “hạ hỏa”, nhưng hãy nhẹ nhàng chứ đừng làm cho họ “quê độ”. Hãy thông cảm họ và giúp họ thoát khỏi vòng kiềm tỏa của sự trầm cảm.
Những người bị trầm cảm nặng có thể liều lĩnh hành động, thậm chí họ có thể tự tử. Vì thế, đừng khinh suất hoặc làm ngơ. Hãy tỏ ra yêu thương họ và cố gắng “giải thoát” họ bằng mọi cách khả thi nhất – có thể là liệu pháp y dược, liệu pháp tâm lý, hoặc liệu pháp tâm linh.
Kha Đông Anh  (Chuyển ngữ từ Signs of Depression)

Cách khắc phục chứng mất ngủ, cach khac phuc chung mat ngu
Thời gian ngủ cần thiết trong ngày thay đổi tùy theo từng người, có thể dao động từ 4 – 10 giờ, khi thời gian ngủ ít và giấc ngủ chập chờn không sâu được các nhà y học gọi là mất ngủ.
Mất ngủ thường do tuổi tác, khi các chức năng của con người bị suy giảm một cách đáng kể.
Mất ngủ do bệnh tật, có rất nhiều loại bệnh làm ảnh hưởng đến giấc ngủ, hay gặp nhất là đau nhức xương khớp như: viêm đa khớp dạng thấp, do thoái hóa khớp, bệnh gút, do bệnh về tim mạch hay gặp nhất là bệnh tăng huyết áp, thiếu máu cơ tim làm cho dễ đau thắt ngực, khó chịu và nhiều khi còn tỏ ra lo lắng làm ảnh hưởng rất nhiều đến giấc ngủ. Bệnh về đường hô hấp hay gặp nhất là bệnh giãn phế quản, hen phế quản… gây ho nhiều, khó ngủ được. Bệnh về đường tiêu hóa, hay gặp nhiều trong bệnh về dạ dày và bệnh viêm đại tràng mạn tính; bệnh về tiết niệu, tiền liệt tuyến, đái tháo đường, cũng là một trong các tác nhân làm cho mất ngủ.
Ngoài ra, môi trường đang sinh sống, thói quen sinh hoạt như sống nơi có quá nhiều tiếng ồn, nhà chật chội, mất vệ sinh, uống rượu bia, thuốc lá…đều ảnh hưởng đến giấc ngủ. Khi nhịp sống sinh học bị phá vỡ thì có thể dẫn đến mất ngủ. Tính chất công việc căng thẳng, stress, sức khỏe giảm sút… cũng gây mất ngủ.
Để khắc phục tình trạng mất ngủ, trước tiên ta cần lập cho mình một thời gian biểu đi ngủ và thức dậy đúng giờ, tránh tạo áp lực trong cuộc sống, điều tối kỵ là làm những công việc suy nghĩ nhiều trước lúc đi ngủ. Nên để đầu óc thư giãn trước khi đi ngủ. Nên sống với lòng vị tha, tránh ích kỷ, buồn rầu, luôn thanh thản và làm công ích. Tránh uống trà, cà phê, rượu bia trước khi đi ngủ. Tránh ăn quá nhiều hay để bụng đói. Không hút thuốc lá lúc đi ngủ vì nicotine ở thuốc lá là chất kích thích làm hưng phấn khó ngủ. Phòng ngủ cần mát mẻ, ánh sáng phù hợp. Khi đã lên giường ngủ nên tự massage nhẹ nhàng ở vùng đỉnh đầu, vùng cổ, vùng thái dương, lòng bàn tay – bàn chân, nằm với tư thế thoải mái.
Người bệnh bị bệnh dạ dày – tá tràng, hội chứng trào ngược nên nằm gối cao. Người hay ngáy nên nằm sắp hay tư thế nghiêng. Người bị sỏi thận nên nằm thay đổi tư thế khác nhau, người bị bệnh tim nên ngủ nghiêng về bên phải.
Nếu sau 45 phút mà vẫn không ngủ được hãy ngồi dậy đọc sách hoặc làm một việc gì đó, sớm muộn gì chúng ta cũng sẽ buồn ngủ, hãy kiên nhẫn sau 2 – 3 tuần dần dần nhịp sinh học sẽ khớp lại với giờ ngủ bình thường.
Tôn trọng giấc ngủ trưa dù 15 hay 20 phút, vì nó hết sức có ý nghĩa. Nghỉ ngơi sẽ giúp cơ thể giải phóng những ứ đọng, đặc biệt là ứ đọng axít lactic, một loại sản sinh ra trong quá trình chuyển hóa, là nguyên nhân dẫn đến mệt mỏi, tránh ngủ ngày quá nhiều sẽ làm khó ngủ vào ban đêm.
Nếu các giải pháp trên vẫn không hiệu quả thì có thể dùng thuốc nam như: lá vông nấu canh với tâm sen, hoặc dùng các loại thuốc nam gây dễ ngủ khác. Nếu kết quả không cải thiện thì dùng thuốc an thần nhẹ dưới sự chỉ định của bác sĩ, nhưng không dùng quá 3 ngày, vì dùng kéo dài sẽ gây quen thuốc. Nếu các giải pháp trên vẫn không giúp dễ ngủ hơn thì bệnh nhân cần được khám và điều trị bởi bác sĩ chuyên khoa.
BS.CKI.TRẦN QUỐC LONG
Nguồn: suckhoedoisong.vn

7 triệu chứng độ quỵ, 7 trieu chung dot quy
Đột quỵ là nguyên nhân thứ năm gây tử vong. Tổn thương não vì đột quỵ có thể giảm thiểu nếu được điều trị đúng cách, nhưng người ta thường lầm lẫn các triệu chứng đột quỵ đối với các vấn đề khác về sức khỏe, thế nên không điều trị ngay.
1. TRIỆU CHỨNG – Trong mỗi phút bị đột quỵ, não mất khoảng 1,9 triệu tế bào. Mỗi giờ bị đột quỵ mà không được điều trị, não tổn thương tương đương 3 năm rưỡi. Càng trì hoãn điều trị, càng cao nguy cơ tổn thương trí nhớ, khó nói và khó phản ứng. Khi phát hiện bị đột quỵ, nên điều trị sớm để làm giảm mức tổn thương não và cải thiện khả năng phục hồi. Bác sĩ Carolyn Brockington, giám đốc Trung Tâm Đột Quỵ Núi Sinai ở New York, nói: “Đột quỵ thật khủng khiếp. Khi tôi hỏi các bệnh nhân đột quỵ là tại sao trì hoãn gọi cấp cứu, câu trả lời chung nhất là họ muốn xem có gì khác hay không”.
Có hai dạng đột quỵ. Dạng đột quỵ thiếu máu cục bộ (ischemic stroke) là các mạch máu bị tắc nghẽn, làm giảm lượng máu chuyển lên não. Dạng đột quỵ xuất huyết (hemorrhagic stroke)là mạch máu bị thoát vị (gián đoạn) làm rỉ máu trong não. Các triệu chứng đối với cả hai loại có thể giống nhau. Hãy gọi cấp cứu càng sớm càng tốt!
2. HOA MẮT – Vấn đề về thị lực như hoa mắt hoặc mờ mắt ở một mắt có thể là triệu chứng đột quỵ, nhưng nhiều người cho rằng đó là do tuổi già hoặc mệt mỏi. Bác sĩ Brockington nói:“Thấy hai hình là tình trạng rất khác thường vì mệt mỏi hoặc đọc sách nhiều. Một mạch máu bị tắc nghẽn có thể làm giảm lượng oxygen dẫn tới mắt, gây ra các vấn đề về thị lực và có thể không có các triệu chứng đột quỵ theo sau”.
3. TÊ TAY, CHÂN – Nếu bạn thức dậy sau giấc ngủ trưa mà tay hoặc chân bị tê, bạn thường cho đó là do chuột rút, thần kinh bị co rút. Bác sĩ Ralph Sacco, giáo sư khoa thần kinh tại ĐH Y Dược Bắc Miami, cho biết: “Đừng nghi ngờ đó là chứng này hay chứng nọ. Nếu tay bị yếu hoặc bị tê trong vài phút, hãy gọi cấp cứu ngay”. Lượng máu giảm ở các động mạch chạy từ cột sống lên đầu khiến bạn cảm thấy yếu hoặc tê một bên người.
4. NÓI LỚ – Bác sĩ Sacco nói: “Một số thuốc, như thuốc giảm đau, có thể gây nói lớ, và người ta thường cho là tại thuốc chứ không nghĩ là đột quỵ. Nhưng nếu đó không là phản ứng phụ mà bạn thường gặp, có thể bạn sắp bị đột quỵ, cần được hỗ trợ ngay”.
5. ĐI LOẠNG CHOẠNG – Bác sĩ Brockington nói: “Người ta nghĩ rằng vấn đề loạng choạng là do men rượu bia, nhưng hãy nên lưu ý nếu không vì men rượu bia. Tình trạng bước đi lảo đảo là do lượng máu chuyển lên não bị giảm. Nếu bất ngờ bạn đi lảo đảo, khó bước thẳng, hoặc chóng mặt, hoa mắt, hãy gọi cấp cứu ngay!”.
6. KHÓ SUY NGHĨ – Bác sĩ Brockington cho biết rằng khi khó suy nghĩ, khó chọn được từ đúng, người ta thường cho là do mỏi mệt. Nhưng tình trạng nhận thức giảm sút bất ngờ có thể là triệu chứng chung của chứng đột quỵ. Trong một số trường hợp, các bệnh nhân đột quỵ không phân biệt được điều gì đúng hay sai, vì thế những người ở xung quanh nên tìm cách đưa họ đi cấp cứu. Bác sĩ Sacco nói: “Một phần não không hoạt động tốt sẽ làm hư hỏng cách nhận thức và cách suy nghĩ của bệnh nhân”. 
7. NHỨC ĐẦU – Có thể là chứng đau nửa đầu, nhưng nếu không phải, đó có thể là chứng đột quỵ. Bác sĩ Sacco nói: “Chứng đau nửa đầu có thể che giấu cơn đột quỵ vì các triệu chứng rất giống nhau. Tôi bảo người ta hãy coi như chứng đột quỵ và cấp cứu ngay, đừng trì hoãn!”.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Reader’s Digest)

VAI TRÒ CỦA DINH DƯỠNG
Vai trò của dinh dưỡng, vai tro cua dinh duong
Từ thế kỷ thứ V trước Công nguyên, danh y Hy Lạp Hippocrates đã chủ trương rằng, để phòng ngừa và điều trị một số bệnh ta chỉ cần áp dụng những chế độ ăn uống cân bằng hợp lý và sống hài hòa với thiên nhiên.
Ngoài việc triều chính, vua Hoàng Đế của Trung Hoa ngày xưa đã biết chỉ dẫn cho dân chúng về bệnh tật cũng như cách sản xuất lương thực và sử dụng những món ăn thức uống có tác dụng trị bệnh và có lợi cho sức khỏe.
Các vị danh y Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông của Việt Nam trước đây đều nhấn mạnh vai trò quan trọng của ẩm thực trong việc ngăn ngừa và chữa trị một số bệnh. Hãy nghe lời khuyên như sau của danh y Tuệ Tĩnh: :
“Muốn cho phủ tạng được yên;Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau”.
Hoặc:
“ Chết vì bội thực cũng nhiều;Ngờ đâu lại có người nghèo chết no”.
Như vậy, có thể nói rằng từ rất xa xưa, các vị danh y trên khắp thế giới hầu như đều đã nhận biết được là vấn đề dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, có thể giúp ta phòng trị bệnh cũng như duy trì được một cuộc sống luôn luôn khỏe mạnh.

Mục đích của Dinh Dưỡng

Dinh dưỡng có ba mục đích chính:
1- Tạo điều kiện thuận lợi để cơ thể có sức khỏe tốt;
2-Phòng ngừa các bệnh liên quan tới ăn uống;
3-Khôi phục sức khỏe sau thời kỳ bệnh tật, thương tích.
Người Anh có câu ngạn ngữ “You are what you eat” (Ăn ra sao thì người thế ấy”), cũng là nói lên tầm quan trọng của vấn đề dinh dưỡng.
Thực phẩm ăn vào có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe trong suốt các giai đoạn khác nhau của đời người. Ăn uống không đúng với tình trạng sinh học thì cơ thể sẽ có hậu quả xấu mà đôi khi chỉ với một vài thay đổi nhỏ về dinh dưỡng cũng cải thiện sức khỏe rất nhiều.
Cứ nhìn người Á Châu trước đây, lấy căn bản thức ăn là gạo, ít calcium, thường đều nhỏ con hơn dân Âu châu ăn lúa mỳ, nhiều calcium. Quan sát người Việt ta, xưa kia dân miền Bắc, miền Trung dinh dưỡng thiếu hụt nên cơ thể nhỏ hơn so với người sanh trưởng ở miền Nam, gạo lúa dư thừa. Con cháu chúng ta bây giờ ở nước ngoài, dinh dưỡng đầy đủ nhờ đó cháu nào cũng to hớn hơn bố mẹ, ông bà.
Mỗi người cần có một thói quen ăn uống lành mạnh. Nhiều người ý thức được việc đó nhưng ít người thực hiện được. Vì thế, càng tìm hiểu nhiều về lợi hại của dinh dưỡng thì ta càng biết cách ăn uống sao cho thích hợp và có lợi cho sức khỏe.
Các lời khuyên về ăn uống thì nhiều và khác nhau nhưng mục đích đều hướng tới sự bảo vệ sức khỏe. Tuy nhiên cũng có người bối rối, không biết theo lời khuyên nào, cho nên tùy hứng làm theo ý mình. Thế là người ta đã tạo ra một thói quen đôi khi xấu nhiều hơn tốt. Do đó việc tạo ra thói quen tốt trong ăn uống đôi khi cũng không hẳn là dễ dàng.
Thói quen ăn uống cũng thay đổi tùy chủng tộc, văn hóa, khả năng cung cầu, điều kiện tâm lý, nếp sống cá nhân, sự hấp dẫn của món ăn, cách thức mời chào, quảng cáo của giới sản xuất.
Hầu hết các quốc gia đều đưa ra những tiêu chuẩn về dinh dưỡng cho người dân, quy định mức dinh dưỡng tối thiểu để cơ thể tăng trưởng mạnh và phát triển trí óc tốt đồng thời tránh được bệnh tật cũng như kéo dài tuổi thọ. Ngoài ra, còn có các chương trình quốc gia hướng dẫn để người dân biết cách áp dụng những tiêu chuẩn ấy trong việc ăn uống hàng ngày.
Một chế độ dinh dưỡng nhiều về lượng và phẩm cũng chưa đủ để có một sức khỏe tốt nếu không có sự cân đối hợp lý các thành phần dinh dưỡng. Trong cơ thể, các cơ quan luôn luôn hoạt động một cách nhịp nhàng tương ứng, để sử dụng các chất dinh dưỡng khác nhau cho các nhu cầu về năng lượng, kiến tạo cũng như tu bổ các tế bào sau khi bị thương tích, bệnh tật.
Số lượng thực phẩm tiêu thụ còn tùy thuộc các yếu tố xã hội, tâm lý, sinh học của con người. Tâm trạng vui buồn đều có ảnh hưởng tới sự ăn uống và tiêu hóa. Các phản ứng sinh hóa trong cơ thể cũng ảnh hưởng tới sự hấp thụ và chuyển hóa dinh dưỡng.
Tóm lại, chất dinh dưỡng có thể làm ta mập hay gầy, hoạt động nhanh nhẹn hay chậm chạp, sống vui khỏe hay thường xuyên đau ốm… Nghĩa là có rất nhiều ảnh hưởng.

Nhu Cầu

Một chế độ dinh dưỡng có thể xem là:
a- Thỏa đáng: khi cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho các hoạt động, chức năng của cơ thể cũng như có dự trữ cho nhu cầu cấp bách.
b- Không đầy đủ: khi tiêu thụ ít hơn nhu cầu. Trong trường hợp này, cơ thể sẽ lấy nguyên liệu từ kho dự trữ để nuôi dưỡng và tái tạo tế bào. Kho sẽ vơi dần dần nếu không được bổ sung.
Lấy ví dụ: hồng huyết cầu chỉ sống khoảng 120 ngày, tế bào niêm mạc ống tiêu hóa cần được thay thế mỗi tuần lễ. Cả hai đều cần có nguyên liệu từ chất dinh dưỡng. Nếu chỉ thiếu dinh dưỡng trong thời gian ngắn, kho dự trữ có thể du di, nhưng nếu kéo dài lâu ngày sẽ nảy sinh nhiều bệnh tật.
c- Quá mức: khi cung cấp nhiều hơn nhu cầu, sẽ tạo ra tình trạng dư thừa. Chẳng hạn, chất sắt rất cần cho việc tạo huyết cầu tố, nhưng quá nhiều sẽ đưa tới suy gan; năng lượng dư được cơ thể hấp thụ và chuyển sang dự trữ, quá nhiều sẽ gây ra tình trạng béo phì.
Mọi người đều cần những thành phần dinh dưỡng như nhau, bất kể tuổi tác, giới tính, chủng tộc, điều kiện sinh hoạt. Tuy nhiên về số lượng thì mỗi cơ thể đều có nhu cầu khác biệt.
Cơ thể càng to lớn thì nhu cầu càng cao; một người hoạt động nhiều chắc chắn cần nhiều thực phẩm hơn người sống tĩnh tại; khi ngủ nghỉ, nhu cầu năng lượng giảm; khi cơ thể run vì lạnh thì cần thêm năng lượng để khỏi lạnh cóng.
Khẩu phần ăn phải phù hợp với mỗi người, không gây cảm giác ngây ngất mệt mỏi vì ăn quá no nhưng cũng không ăn quá ít, vì sẽ không cung cấp đủ dinh dưỡng cho hoạt động của cơ thể.

Chế độ dinh dưỡng hợp lý

Lời khuyên chung của các nhà dinh dưỡng và y tế về sự ăn uống là chúng ta nên:
1- Ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, vì mỗi loại có chất dinh dưỡng mà loại khác không có.
Chẳng hạn sữa mẹ được coi như gần hoàn hảo, nhưng lại có ít sắt và sinh tố D.
Sữa bò có nhiều đạm nhưng rất ít sắt và không có chất xơ.
Thịt động vật có vú nhiều đạm nhưng ít calci.
Trứng không có vitamin C và có rất ít calci vì hầu hết nằm ở vỏ trứng.
Như vậy cần có chế độ ăn đa dạng mới cung cấp đủ chất dinh dưỡng.
2- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức trung bình. Để tránh tăng cân quá mức, chỉ nên ăn đủ số năng lượng mà cơ thể cần;
3- Giảm chất béo động vật bão hòa và cholesterol: lượng cholesterol ăn vào mỗi ngày không quá 300mg; chất béo động vật bão hòa không quá 10% tổng số năng lượng được cung cấp mỗi ngày. Nên dùng dầu thực vật với chất béo chưa bão hòa. Mức tiêu thụ chất béo nói chung không nên quá 30% tổng số năng lượng mỗi ngày.
4- Giảm thịt động vật có nhiều mỡ hoặc loại bỏ bớt mỡ khi ăn thịt; ăn nhiều cá. Việc ăn thịt tự nó không có hại cho người khỏe mạnh, nhưng ăn nhiều thịt thường kèm theo nhiều chất béo và cung cấp nhiều năng lượng.
5- Dùng sữa đã gạn bớt chất béo, nhất là ở người tuổi cao.
6- Ăn thêm thực phẩm có chất xơ và tinh bột.
7- Tránh tiêu thụ quá nhiều đường tinh chế. Đường không gây bệnh tiểu đường, bệnh tim như nhiều người lầm tưởng, nhưng vì có nhiều năng lượng cho nên dễ dẫn tới béo phì.
8- Giới hạn muối không quá 2500 mg mỗi ngày.
9- Hạn chế rượu bia. Nếu không thể bỏ hẳn thì không nên quá 350 ml bia hoặc 150 ml rượu vang, hai lần một ngày. Nếu là rượu mạnh thì không quá 50ml.

Hậu quả của chế độ dinh dưỡng sai

Chế độ dinh dưỡng sai có nguy cơ đưa tới một số bệnh tật. Sai có thể là quá dư, quá thiếu hoặc không cân đối.
Thiếu dinh dưỡng, cơ thể sẽ chậm phát triển, trí nhớ kém, sức đề kháng với bệnh tật giảm, cơ thể suy nhược và đưa tới giảm tuổi thọ.
Dinh dưỡng dư thừa sẽ dẫn đến các bệnh kinh niên, như bệnh tim, ung thư, cao huyết áp, tai biến động mạch não, tiểu đường. Ngoài ra còn có thể mắc phải những bệnh khác như xơ gan, viêm túi ruột hoặc tai nạn, tự tử do tiêu thụ nhiều rượu.
Dinh dưỡng sai mà lại thiếu vận động cơ thể còn đưa tới nhiều ảnh hưởng không tốt khác cho sức khỏe.
Dinh dưỡng không đúng cũng gây ra tổn thương về nhiều phương diện cho các thế hệ sau.
Bác sĩ Nguyễn Ý ĐứcNguồn: bsnguyenyduc.com

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget